Australian culture and culture shock
Sometimes
work, study or an sense of adventure take us out of our familiar surroundings
to go and live in a different culture. The experience can be difficult, even
shocking.
Almost
everyone who studies, lives or works abroad has problems adjusting to a new
culture. This response is commonly referred to as 'culture
shock'. Culture shock can be defined as 'the physical and
emotional discomfort a person experiences when entering a culture different
from their own' (Weaver, 1993).
|
Văn
hóa người Úc và hiện tượng sốc văn hóa
Đôi
khi trong việc làm, việc học, một cảm giác phiêu lưu ra khỏi môi trường quen
thuộc và sống trong một nền văn hóa khác. Trải nghiệm đó có thể sẽ khó khăn
và thậm chí gây sốc.
Hầu
như tất cả những ai đã nghiên cứu, sống và làm việc ở nước ngoài đều gặp
những trở ngại để thích nghi với một nền văn hóa mới. Phản ứng này thường
được gọi là "sốc văn hóa".
Sốc văn hóa được định nghĩa là "cảm giác khó chịu phải trải qua về thể
chất và tinh thần của một người khi họ bước vào một nền văn hóa khác biệt vơi
nơi họ ở trước đây" - (theo Weaver, đến Úc năm 1993).
|
For people moving to Australia, Price (2001) has identified
certain values which may give rise to culture shock. Firstly, he argues that
Australians place a high value on independence and personal choice. This
means that a teacher or course tutor will not tell students what to do, but
will give them a number of options and suggest they work out which one is the
best in their circumstances. It also means that they are expected to take
action if something goes wrong and seek out resources and support for
themselves.
Australians
are also prepared to accept a range of opinions rather than believing there
is one truth. This means that in an educational setting, students will be
expected to form their own opinions and defend the reasons for that point of
view and the evidence for it.
Price
also comments that Australians are uncomfortable with differences in status
and hence idealise the idea of treating everyone equally. An illustration of
this is that most adult Australians call each other by their first names.
This concern with equality means that Australians are uncomfortable taking
anything too seriously and are even ready to joke about themselves.
Australians
believe that life should have a balance between work and leisure time. As a
consequence, some students may be critical of others who they perceive as
doing nothing but study.
|
Như nhiều người chuyển đến Úc, Price (đến Úc năm 2001) cho
rằng có những nguyên nhân nhất định dẫn đến sốc văn hóa. Thứ nhất, anh ấy lập
luận rằng người Úc rất chú trọng vào tính độc lập và sự lựa chọn mang tính cá
nhân. Điều này có nghĩa một giáo viên hoặc một gia sư sẽ không nói với sinh
viên rằng họ sẽ làm gì, nhưng sẽ đưa ra một số lựa chọn mà các sinh viên phải
giải quyết để tìm ra ra giải pháp tốt nhất theo các hoàn cảnh khác nhau. Điều
này cũng có nghĩa là sinh viên phải hành động nếu có gì đó không ổn và tự tìm
các tài liệu và tự lo cho chính mình.
Người
Úc cũng sẵn sàng lắng nghe các ý kiến khác nhau hơn là tin vào một điều gì đó
chỉ có một lời giải. Điều này có nghĩa là trong môi trường giáo dục, sinh
viên được mong đợi sẽ đưa ra các ý kiến riêng và bảo vệ bằng những lập luận
cho quan điểm và những bằng chứng về nó.
Price
cũng bình luận rằng người Úc thì rất thoải mái với sự khác biệt về địa vị xã
hội vì thế sẽ đối xử như nhau với tất cả mọi người. Một dẫn chứng là hầu hết
những người Úc trưởng thành gọi nhau bằng tên. Hơn nữa, người Úc cảm thấy
không thoải mái nếu cứ nghiệm trọng hóa mọi việc lên và họ thậm chí còn
tự đùa giỡn về chính bản thân họ.
Người
Úc nghĩ rằng cuộc sống phải hài hòa giữ làm việc và giải trí. Theo đó, một
vài sinh viên có thể sẽ bị chê bai bởi những sinh viên khác, những người mà
cho rằng những sinh viên đó chẳng làm gì cả ngoại trừ việc học.
|
Australian notions of privacy mean that areas such as
financial matters, appearance and relationships are only discussed with close
friends. While people may volunteer such information, they may resent someone
actually asking them unless the friendship is firmly established. Even then,
it is considered very impolite to ask someone what they earn. With older
people, it is also rude to ask how old they are, why they are not married or
why they do not have children. It is also impolite to ask people how much
they have paid for something, unless there is a very good reason for asking.
Kohls (1996) describes culture shock as a process of change
marked by four basic stages. During the first stage, the new
arrival is excited to be in a new place, so this is often referred to as the "honeymoon"
stage. Like a tourist, they are intrigued by all the new sights and
sounds, new smells and tastes of their surroundings. They may have some
problems, but usually they accept them as just part of the novelty. At this
point, it is the similarities that stand out, and it seems to the newcomer
that people everywhere and their way of life are very much alike. This period
of euphoria may last from a couple of weeks to a month, but the letdown is
inevitable.
During the second stage, known as the
'rejection' stage, the newcomer starts to experience difficulties due to
the differences between the new culture and the way they were accustomed to
living. The initial enthusiasm turns into irritation, frustration, anger and
depression, and these feelings may have the effect of people rejecting the
new culture so that they notice only the things that cause them trouble, which
they then complain about. In addition, they may feel homesick, bored,
withdrawn and irritable during this period as well.
Fortunately, most people gradually learn to adapt to the new
culture and move on to the third stage, known as'adjustment
and reorientation'. During this stage a transition occurs to a new
optimistic attitude. As the newcomer begins to understand more of the new
culture, they are able to interpret some of the subtle cultural clues which
passed by unnoticed earlier. Now things make more sense and the culture seems
more familiar. As a result, they begin to develop problem-solving skills, and
feelings of disorientation and anxiety no longer affect them.
In Kohls's model, in the fourth stage, newcomers
undergo a process of adaptation. They have settled into the new
culture, and this results in a feeling of direction and self-confidence. They
have accepted the new food, drinks, habits and customs and may even find
themselves enjoying some of the very customs that bothered them so much previously.
In addition, they realise that the new culture has good and bad things to
offer and that no way is really better than another, just different.
|
Khái niệm riêng tư của người Úc bao gồm cả vấn đề tài chính,
hình thức, các mối quan hệ và chuyện riêng với một người bạn thân nào đó.
Trong khi đó, họ có thể tự nguyện để cho biết các thông tin trên, họ sẽ thực
sự rất bực bội với một người nào đó nếu hỏi họ những vấn đề trên trừ khi bạn
đã là một người thân quen. Thậm chí, sẽ được xem như một câu hỏi mất lịch sự
nếu bạn hỏi số tiền mà người đó kiếm được. Với những người đứng tuổi, sẽ rất
thô lôx nếu hỏi tuổi họ, tại sao họ chưa lập gia đình hoặc tại sao họ chưa có
con. Cũng tương tự nếu bạn hỏi họ đã trả bao nhiêu tiền để mua thứ gì đó, trừ
khi bạn có một lý do rất chính đáng đêr biết câu trả lời.
Lược
đồ của Hohls (người đến Úc năm 1996) mô tả sốc văn hóa là một quá
trình trải qua bốn giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, lần
đầu đến một nơi mới mẻ là một trải nghiệm tuyệt vời, giai đoạn này được ví
như "giai
đoạn trăng mật". Giống như một du khách, họ bị quyến rũ
bởi các cảnh mới, âm thanh và mùi vị mới và thưởng thức những điều xung quanh
mình. Họ có thể mắc phải một số vấn đề, nhưng thường thì họ chấp nhận chúng
như một phần của sự mới lạ. Vào lúc này, đó là những điểm tương đồng, và nó
cũng giống nhau với mọi người ở mọi nơi và cách họ thể hiện cũng giống nhau
khá nhiều. Giai đoạn này có thể kéo dài từ vài tuần đến một tháng, nhưng cảm
giác thất vọng về sau là điều không thể tránh khỏi.
Trong giai
đoạn thứ hai, được biết đến như giai
đoạn từ bỏ, một người mới đến gặp nhiều trải nghiệm khó khăn
với sự khác biệt giữa văn hóa mới và nơi họ đã từ quen thuộc. Từ sự hứng khởi
ban đầu và từ từ trở thành sự khó chịu, thất vọng, giận dữ và trầm cảm và
những cảm giác có thể làm cho họ từ bỏ nên văn hóa mới này vì thế họ chỉ quan
tâm tới những điều gây ra khó khăn cho họ, và họ liên tục phàn nàn về những
điều đó. Ngoài ra, họ có thể cảm thấy nhớ nhà, buồn chán, rụt rè và dễ cáu
kỉnh trong suốt thời gian họ sống ở nơi mới.
May
mắn thay, hầu hết mọi người dần học được cách thích nghi với văn hóa mới và
chuyển sang giai đoạn thứ ba,
được gọi là "giai đoạn điều chỉnh và định
hướng lại" Trong
giai đoạn này một quá trình chuyển đổi sẽ xảy ra với một thái độ lạc quan. Họ
như những người mới bắt đầu tìm hiểu về một nền văn hóa mới, họ có thể lý
giải những điều đặc sắc trong văn hóa mới mà họ đã không chú ý đến trước đó.
Bây giờ mọi thứ sẽ trở nên có nghĩa hơn và văn hóa cũng trở nên quen thuộc
hơn. Kết quả là, họ bắt đầu phát triển các kỹ năng giải quyết vấn đề, và những
cảm giác mất phương hướng hay lo lắng sẽ không còn là trở ngại với họ.
Trong
biều đồ của Kohls, ở giai đoạn thứ tư,
với một người mới trải qua một quá trình thích ứng.
Họ đã sống ổn định với nền văn hóa mới và đó là kết quả của sự làm chủ và tự
tin về bản thân mình. Họ đã chấp nhận các đồ ăn mới, thức uống mới, thói
quen, tập quán và thậm chí là có thể tận hưởng với một lối sống mới mà có thể
trước đây nó đã gây khó khăn cho họ rất nhiều. Ngoài ra, họ còn nhận ra rằng
văn hóa mới cũng có nhiều điều tốt- xấu và không có cách nào thực sự hoàn
hoàn hảo hơn cách nào, chỉ là sự khác biệt.
Dịch
bởi: Ce
Phan
|
CỤM TỪ LIÊN QUAN
culture shock
sốc văn hóa
(to) work out
tìm ra
a couple of weeks
2 tuần
(to) adapt to s.th
thích nghi, thích ứng
với cái gì đó
physical discomfort
sự khó chịu về thể
chất
emotional discomfort
sự khó chịu về tinh
thần
personal choice
sự lựa chọn mang tính
cá nhân
(to) seek out
resources
tìm kiếm nguồn thông
tin
educational settings
môi trường giáo dục
point of view
thái độ, ý kiến ,quan
điểm
differences in status
nhứng sự khác biệt về
địa vị, thân phận
leisure time
thời gian nhàn rỗi
(không phải làm việc)
financial matters
các vấn đề về tài
chính
(be) accustomed to
s.th
quen thuộc với cái gì
initial enthusiasm
sự hứng khỏi ban đầu
optimistic attitude
thái độ lạc quan
problem solving skills
các kỹ năng giải quyết
vấn đề
self-confidence
tự tin


Đăng nhận xét