How to manage warfarin therapy

How to manage warfarin therapy

SUMMARY

Long-term treatment with warfarin is recommended for patients with atrial fibrillation at risk of stroke and those with recurrent venous thrombosis or prosthetic heart valves.

Patient education before commencing warfarin – regarding signs and symptoms of bleeding, the impact of diet, potential drug interactions and the actions to take if a dose is missed – is pivotal to successful use.

Scoring systems such as the CHADS2 score are used to determine if patients with atrial fibrillation are suitable for warfarin treatment. To rapidly achieve stable anticoagulation, use an age-adjusted protocol for starting warfarin.

Regular monitoring of the anticoagulant effect is required. Evidence suggests that patients who self-monitor using point-of-care testing have better outcomes than other patients.

Introduction

Warfarin is recommended for the prevention of systemic embolism, stroke associated with atrial fibrillation, and venous thromboembolism (Table 1).1 Its use is limited by several factors including a narrow therapeutic range, and drug–drug and drug–food interactions. Bleeding, particularly in the setting of over-anticoagulation, is a major concern.

The decision to start warfarin therapy requires an assessment of its harms and benefits for each patient. This assessment should take into account the patient’s medical, social, dietary and drug history, level of education and adherence to previous therapy.2 While the risk of falls plays a part in the harm-benefit assessment, published data indicate the propensity to fall is not an important factor in this decision.3Educating the patient is essential before they start warfarin. This includes informing them about the signs and symptoms of bleeding, the impact of diet, potential drug interactions and actions to take if a dose is missed.

The safety and efficacy of warfarin is critically dependent on maintaining the INR within the target range. Patients must agree to undergo regular blood tests during treatment.
Quản lý điều trị warfarin như thế nào ?

Tóm tắt

Điều trị dài hạn với warfarin được khuyến cáo cho bệnh nhân rung nhĩ có nguy cơ đột quỵ và những bệnh nhân có huyết khối tĩnh mạch tái phát hoặc van tim giả.

Giáo dục bệnh nhân trước khi sử dụng warfarin – bao gồm các dấu hiệu và triệu chứng của chảy máu, ảnh hưởng của chế độ ăn, tương tác thuốc tiềm tàng và cách xử lý khi quên uống một liều thuốc – là cần thiết để sử dụng thuốc hiệu quả.

Hệ thống đánh giá như thang điểm CHADS2 được dùng để xác định bệnh nhân rung nhĩ có phù hợp với điều trị warfarin hay không. Để nhanh chóng đạt được hiệu quả chống đông ổn định, sử dụng hướng dẫn hiệu chỉnh liều theo tuổi khi bắt đầu dùng warfarin.

Theo dõi thường xuyên tác dụng chống đông là cần thiết. Bằng chứng chỉ ra rằng những bệnh nhân tự theo dõi bằng cách sử dụng xét nghiệm nhanh tại chỗ (POCT) cho kết quả điều trị tốt hơn các bệnh nhân khác.

Giới thiệu

Warfarin được khuyến cáo trong phòng ngừa tắc mạch, đột quỵ liên quan đến rung nhĩ, và huyết khối tĩnh mạch (Bảng 1). Việc sử dụng warfarin bị hạn chế bởi một số yếu tố như: khoảng điều trị hẹp, tương tác thuốc – thuốc và thuốc – thức ăn. Chảy máu, đặc biệt trong trường hợp quá liều thuốc chống đông, cần được lưu ý.

Quyết định điều trị bằng warfarin cần cân nhắc về nguy cơ và lợi ích trên mỗi bệnh nhân. Sự đánh giá này nên dựa trên tiền sử bệnh, quan hệ xã hội, chế độ ăn uống, tiền sử dùng thuốc và sự tuân thủ các liệu pháp điều trị trước đó. Trong khi nguy cơ té ngã là một yếu tố liên quan trong việc đánh giá tác hại – lợi ích của việc dùng warfarin, dữ liệu được công bố chỉ ra rằng xu hướng gây té ngã không phải là yếu tố quan trọng trong quyết định sử dụng thuốc. Giáo dục bệnh nhân là cần thiết trước khi sử dụng warfarin. Bao gồm tư vấn cho bệnh nhân các dấu hiệu và triệu chứng của chảy máu, ảnh hưởng của chế độ ăn, các tương tác thuốc tiềm tàng và cách xử lý khi quên dùng một liều thuốc.

Sự an toàn và hiệu quả của warfarin phụ thuộc rất lớn vào việc duy trì chỉ số INR trong khoảng mục tiêu. Bệnh nhân phải được xét nghiệm máu thường xuyên trong quá trình điều trị.


Table 1. Indications, goals and duration of warfarin therapy

Bảng 1: Chỉ định, mục tiêu điều trị và thời gian điều trị của liệu pháp warfarin
Chỉ định
Mục tiêu INR
Thời gian
Huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới hoặc thuyên tắc phổi
2,5 (2,0 – 3,0)
Ít nhất 3 tháng
Rung nhĩ hay cuồng động nhĩ
-         Nguy cơ đột quỵ trung bình đến cao
-         Sốc điện

-         Hẹp van hai lá
-         Sau khi đặt stent và nguy cơ cao đột quỵ


2,5 (2,0 – 3,0)

2,5 (2,0 – 3,0)

2,5 (2,0 – 3,0)
2,5 (2,0 – 3,0)


Không xác định

3 tuần trước sốc điện và 4 tuần sau khi chuyển nhịp thành công
Không xác định
Stent kim loại (1 tháng) và stent phủ thuốc (3-6 tháng) điều trị bộ ba kết hợp với clopidogrel và aspirin
Sau khi khởi đầu điều trị bộ ba, tiếp tục warfarin và một thuốc chống kết tập tiểu cầu đến 12 tháng sau khi đặt stent
Sau 12 tháng, sử dụng warfarin đơn độc
Bệnh van tim
-         Bệnh van 2 lá do thấp
-         Van tim cơ học giả







-         Van sinh học ở vị trí van 2 lá

2,5 (2,0 – 3,0)

Van đĩa nghiêng hoặc hai đĩa: 2,5 (2,0 – 3,0) ở vị trí động mạch chủ và 3,0 (2,5 – 3,5) ở vị trí van 2 lá

2,5 (2,0 – 3,0)

Dài hạn

Dài hạn
Khuyến cáo dùng bổ sung aspirin, 50-100 mg hằng ngày, nếu nguy cơ chảy máu thấp




3 tháng sau đặt van

Stroke prevention
In patients with non-valvular atrial fibrillation, the decision to start warfarin should be based on the CHADS2 score. This assigns 1 point each for congestive heart failure, hypertension, age 75 years and older, and diabetes mellitus, and 2 points for previous ischaemic stroke or transient ischaemic attack.1

The CHADS2 score reliably identifies patients at intermediate and high risk of stroke, but less reliably identifies those truly at low risk.4 Anticoagulation with warfarin is recommended if the CHADS2 score is ≥2 and should be considered if the score is 1.

The CHA2DS2-VASc score (Table 2),5 introduced by the European Society of Cardiology, provides a more comprehensive assessment of the risk factors for stroke. It is better at identifying ‘truly low-risk’ patients with atrial fibrillation, and is now preferred over CHADS2.

The HAS-BLED score (Table 2)5 has been developed to determine the risk of bleeding. Scores range from 0 to 9. Scores ≥3 indicate a high risk of bleeding, the need for cautious management and regular review of the patient. It is not the intention to use HAS-BLED scores to exclude warfarin, but to allow the clinician to identify risk factors for bleeding and to correct those that are modifiable.6
Phòng ngừa đột quỵ

Đối với bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim, việc sử dụng warfarin nên dựa trên thang điểm CHADS2. Cho một điểm với mỗi trường hợp bệnh nhân có một yếu tố sau: suy tim sung huyết, tăng huyết áp, tuổi ≥ 75 và đái tháo đường; hai điểm cho cơn đột qụy hoặc cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua trước đó.

Thang điểm CHADS2 xác định một cách đáng tin cậy nguy cơ đột quỵ trung bình và cao,  nhưng ít tin cậy hơn cho nguy cơ thấp. Chống đông với warfarin được khuyến cáo nếu thang điểm CHADS2 ≥ 2 và nên cân nhắc nếu điểm = 1.

Thang điểm CHADS2-VASc (Bảng 2) đưa ra bởi Hội Tim mạch châu Âu, cung cấp một đánh giá toàn diện hơn về những yếu tố nguy cơ của đột quỵ. Thang điểm này đánh giá tốt hơn trên bệnh nhân nguy cơ rung nhĩ thấp thực sự, và hiện được ưa thích hơn CHADS2.

Thang điểm HAS-BLED (Bảng 2) được phát triển để xác định nguy cơ chảy máu. Thang điểm từ 0 đến 9. Điểm ≥ 3 chỉ ra nguy cơ chảy máu cao, cần thận trọng và theo dõi bệnh nhân thường xuyên. Thang điểm này không dùng để loại trừ warfarin, nhưng cho phép các bác sĩ lâm sàng xác định yếu tố nguy cơ chảy máu và hiệu chỉnh nếu có thể.


Table 2. Scoring systems for assessing the risk of stroke (CHA2DS2-VASc) and bleeding (HAS-BLED) in patients with atrial fibrillation

Bảng 2: Hệ thống tính điểm đánh giá nguy cơ đột quỵ (CHA2DS2-VASc) và chảy máu (HAS-BLED) đối với bệnh nhân rung nhĩ
CHA2DS2-VASc
Điểm
HAS-BLED
Điểm
Suy tim sung huyết
Tăng huyết áp
Tuổi ≥ 75
Đái tháo đường
Đột quỵ/cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua/huyết khối
Bệnh mạch máu (Nhồi máu cơ tim trước đó, bệnh động mạch ngoại vi, xơ vữa động mạch chủ)
Tuổi 65-74
Giới tính: nữ
1
1
2
1

2

1

1
1
Tăng huyết áp (HA tâm thu > 160 mmHg)
Chức năng thận và gan bất thường (mỗi tổn thương 1 điểm)
Đột quỵ
Xu hướng chảy máu
INR không ổn định (nếu dùng warfarin)
Tuổi > 65
Dùng thuốc hoặc rượu (1 điểm mỗi thứ)
1

1 hoặc 2
1
1
1
1
1 hoặc 2
Điểm tối đa:
9
Điểm tối đa
9

Optimising warfarin management

A patient’s response to warfarin is driven primarily through genetic variance in the hepatic clearance, and vitamin K handling. Diet, age and dose also influence the anticoagulant effect. Assessing the response is complicated by a delay of 2–3 days before the INR reflects any changes in warfarin dose.

Starting warfarin

When commencing warfarin it is important to measure the baseline INR. If this is 1.4 or above, without warfarin, liver function and nutrition status should be assessed and specialist advice sought regarding the patient’s suitability for anticoagulation with warfarin.

Warfarin is usually started with loading doses. The Fennerty warfarin loading protocol published in 1984 was efficient in the relatively young population tested, but it was subsequently shown to cause significant over-anticoagulation in the elderly.7,8 Another protocol, based on the Fennerty protocol, decreased the loading dose with increasing age. This age-adjusted protocol (Table 3)9 recommends a 10 mg starting dose for patients aged 50 years and under, decreasing to 6 mg for patients over 80 years old.

The age-adjusted protocol was superior to the Fennerty protocol and to empirical prescribing.8 Patients more rapidly achieved a stable INR, had fewer results above 4.0 during the initiation phase and fewer doses withheld due to rapidly rising INRs.8,9

Warfarin can be safely started in the community setting, but a recognised initiation protocol should be used. Even purportedly ‘safe’ starting doses of 5 mg represent a large loading dose for a patient who requires a maintenance dose of only 1–2 mg, and can lead to marked over-anticoagulation in a few days if INRs are not monitored. There is generally a significant movement in INR on the third or fourth day after starting warfarin, regardless of whether an initiation protocol is adhered to, or a ‘safe’ dose of 5 mg is used.

When possible, a single strength warfarin tablet should preferably be prescribed so that doses are multiples of one tablet.10 Patients should take their warfarin once a day at the same time in the evening, with INR testing in the morning. The INR should be measured daily for the first five days.

Tối ưu hóa điều trị warfarin

Đáp ứng của bệnh nhân với warfarin được điều chỉnh chủ yếu thông qua sự biến đổi di truyền trong độ thanh thải của gan, và việc sử dụng vitamin K. Tuổi, chế độ ăn uống và liều thuốc cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả chống đông. Đánh giá đáp ứng của bệnh nhân thường phức tạp do độ trễ từ 2-3 ngày trước khi kết quả INR phản ánh bất cứ sự thay đổi nào về liều warfarin.

Bắt đầu điều trị với warfarin

Khi bắt đầu điều trị warfarin, cần xác định giá trị INR nền. Nếu INR ≥ 1,4 và chưa sử dụng warfarin, chức năng gan và tình trạng dinh dưỡng nên được đánh giá. Tham khảo ý kiến chuyên gia về sự phù hợp của bệnh nhân đối với liệu pháp chống đông dùng warfarin.

Warfarin thường bắt đầu với liều nạp. Quy trình khởi đầu warfarin Fennerty công bố năm 1984 được cho là hiệu quả khi thử nghiệm cho những người tương đối trẻ, nhưng sau đó cho thấy gây tác dụng chống đông quá mức ở người già. Quy trình khác, dựa trên quy trình Fennerty, giảm liều nạp khi tuổi tăng lên. Quy trình điều chỉnh liều theo tuổi này khuyến cáo bắt đầu bằng 10 mg đối với bệnh nhân ≤ 50 tuổi, giảm còn 6 mg cho bệnh nhân trên 80 tuổi.

Quy trình điều chỉnh liều theo tuổi tỏ ra vượt trội hơn quy trình Fennerty và việc kê đơn dựa theo kinh nghiệm. Bệnh nhân nhanh chóng đạt được INR ổn định, ít gặp kết quả INR trên 4,0 hơn trong suốt giai đoạn khởi đầu và ít phải bỏ liều hơn do INR tăng nhanh.

Khởi đầu điều trị với warfarin có thể là an toàn khi kê cho bệnh nhân ngoại trú, nhưng nên sử dụng quy trình khởi đầu đã được chấp nhận. Ngay cả liều khởi đầu “an toàn” 5 mg cũng có thể là liều khởi đầu lớn nếu bệnh nhân chỉ yêu cầu liều duy trì 1-2 mg, và có thể dẫn đến tác dụng chống đông quá mức rõ rệt trong vài ngày nếu không theo dõi INR. Có một sự thay đổi đáng kể trong INR vào ngày thứ ba hoặc thứ tư sau khi bắt đầu với warfarin, cho dù có tuân thủ quy trình liều khởi đầu hay không, hoặc sử dụng liều “an toàn” 5 mg.

Khi có thể, viên nén warfain đơn liều nên được ưu tiên chỉ định, để cho liều thuốc là bội số của một viên nén. Bệnh nhân nên uống warfarin mỗi lần một ngày cùng một thời điểm vào buổi tối, và kiểm tra INR vào buổi sáng. INR nên được đo hằng ngày trong năm ngày đầu tiên.
Table 3. Age-adjusted protocol for starting warfarin

Bảng 3: Liều warfarin theo tuổi khi bắt đầu điều trị (mg)
Ngày
INR
Tuổi ≤ 50
Tuổi 51 -65
Tuổi 66-80
Tuôi > 80
1
< 1,4
10
9
7,5
6
2
(16h sau liều đầu)
≤ 1,5
≥ 1,6
10
0,5
9
0,5
7,5
0,5
6
0,5
3 (16h sau liều thứ hai)
≤ 1,7
1,8-2,3
2,4-2,7
2,8-3,1
3,2-3,3
3,4
3,5
3,6-4
>4
10
5
4
3
2
1,5
1
0,5
Bỏ liều
9
4,5
3,5
2,5
2
1,5
1
0,5
Bỏ liều
7,5
4
3
2
1,5
1
1
0,5
Bỏ liều
6
3
2
1
1
1
0,5
0,5
Bỏ liều
4 (16h sau liều thứ ba)
≤ 1,5
1,6
1,7-1,8
1,9
2,0-2,6
2,7-3,0
3,1-3,5
3,6-4,0
4,1-4,5





>4,5


10-15
8
7
6
5
4
3,5
3
Bỏ qualiều tiếp theo, sau đó dùng liều 1-2


Bỏ liều

9-14
7
6
5
4,5
3,5
3
2,5
Bỏ qualiều tiếp theo, sau đó dùng liều 0,5-1,5

Bỏ liều

7,5-11
6
5
4,5
4
3
2,5
2
Bỏ qualiều tiếp theo, sau đó 0,5-1,5


Bỏ liều

6-9
5
4
3,5
3
2,5
2
1,5
Bỏ qualiều tiếp theo, sau đó 0,5-1


Bỏ liều

Warfarin nên được uống lúc 6h tối mỗi ngày
Máu định lượng INR nên lấy khoảng giữa 9h và 11h sáng hôm sau.

Maintenance therapy

Once the patient has had two consecutive INRs in the target range, the INR can be measured at increasing intervals depending on its stability. Once the dose and INR are stable, patients can usually be well controlled with 4–6-weekly testing, but some patients will require more frequent testing. Dose adjustment is not required for minor INR fluctuations, if the result remains within the patient’s target range.

When adjusting maintenance doses for high or low INR values, it is important to think in terms of adjusting the dose as a percentage-based change. There is a reasonable linear relationship between dose and INR response during maintenance dosing, so a 10% dose increase will result in an increase of approximately 10% in the INR.11 A 1 mg increment is a major adjustment for a patient normally receiving 2 mg daily (50% adjustment), and would result in a major INR change, but not for a patient receiving 10 mg daily (10% adjustment). Table 4 gives an example of the dose changes that may be needed to maintain the INR within a target range of 2–3.

For INR ≥5 follow the Australian consensus guidelines.12 In all cases of out-of-range INRs, possible causes for altered INR should be considered to determine if they are reversible. For example, if the INR has been elevated by antibiotics it can be expected to fall when the course is finished. This can be factored into the dosing and monitoring requirements.

Warfarin is subject to multiple interactions including:
Ø  diet – for example beetroot, liver, green leafy vegetables (decreased INR)
Ø  drugs that may increase INR – macrolide antibiotics, imidazole antifungals, sulfamethoxazole/trimethoprim, amiodarone, statins, some non-steroidal anti-inflammatory drugs, and some complementary medicines such as St John’s wort
Ø  weight loss or weight gain
Ø  excess alcohol.

The risk of bleeding is minimised by regularly monitoring the INR, and ensuring the patient understands the action of warfarin and how to recognise the signs of bleeding. Patients should have their INR checked after any dose changes, the addition of any potentially interacting drugs, or dietary changes.

To prevent INRs outside of target range:
Ø  consider potential warfarin–drug interactions
Ø  wait at least 48 hours before testing INR after any change of dose, as earlier testing will not reflect the full response to the dose adjustment
Ø  if INR drifts below the target, avoid excessive increases in dose
Ø  provide ongoing patient education.

Although bleeding can occur in the target range, the risk increases with a rising INR. Elevated INRs between 4.5 and 10, and not associated with bleeding or a high risk of bleeding, can be safely managed by withholding warfarin and carefully monitoring the INR. Vitamin K1 can be given orally or intravenously to reverse the effect of warfarin in patients with INRs above 10 or those with bleeding or a high risk of bleeding. In patients who are not actively bleeding, it is important to avoid overtreatment as this will make it difficult to re-establish control of the INR. The initial intravenous dose of vitamin K should probably not exceed 0.5–1 mg. If immediate reversal is required, prothrombin complex is preferred to fresh frozen plasma.12
Điều trị duy trì

Mỗi khi bệnh nhân có 2 giá trị INR liên tiếp nằm trong khoảng mục tiêu, INR có thể được đo thưa hơn phụ thuộc vào độ ổn định các giá trị đo được.Khi liều và INR là ổn định, bệnh nhân thường có thể được kiểm soát tốt vớiđo INR mỗi 4-6 tuần, nhưng một số bệnh nhân yêu cầu thử máu thường xuyên hơn. Không cần điều chỉnh liều khi INR dao động nhẹ, nếu kết quảvẫn nằm trong khoảng mục tiêu của bệnh nhân.

Khi liều duy trì được điều chỉnh theo giá trị INR cao hoặc thấp, việc điều chỉnh liều dựa trên sự thay đổi tỷ lệ phần trăm giá trị INR. Có một mối quan hệ tuyến tính hợp lý giữa liều và đáp ứng INR trong suốt quá trình dùng liều duy trì, bởi vậy khi tăng liều lên 10% dẫn đến tăng xấp xỉ 10% INR.Việc tăng thêm 1 mg là sự điều chỉnh lớn đối với một bệnh nhân thườnguống 2 mg hằng ngày (điều chỉnh 50% liều), có thể dẫn đến thay đổi lớn về giá trị INR. Nhưng tăng 1mg đối với bệnh nhân uống 10mg hằng ngày (điều chỉnh 10% liều) thì chỉ thay đổi nhẹ giá trị INR. Bảng 4 cho thấy ví dụ về sự thay đổi liều có thể cần thiết để duy trì INR trong khoảng mục tiêu 2-3.

Đối với trường hợp INR ≥ 5, làm theo Hướng dẫn đồng thuận của Australia. Trong tất cả các trường hợp INR vượt quá giới hạn cho phép, nguyên nhân làm thay đổi INR nên được xác định nếu các nguyên nhân này có thể đảo ngược lại được. Ví dụ, nếu INR tăng lên bởi phối hợp dùng kháng sinh, nó sẽ giảm nếu không sử dụng kháng sinh nữa. Điều này có thể là nhân tố ảnh hưởng đến liều và yêu cầu theo dõi điều trị.

Tương tác thuốc:
Ø  Chế độ ăn: ví dụ củ cải đường, gan, rau lá xanh (giảm INR)
Ø  Thuốc làm tăng INR: kháng sinh macrolide, kháng nấm imidazole, sulfamethoxazole/trimethoprim, amiodarone, nhóm statin, một vài NSAID, và một số thực phẩm chức năng như St John’s.
Ø  Giảm cân hoặc tăng cân.
Ø  Uống rượu quá mức.

Nguy cơ chảy máu được giảm thiểu bởi việc theo dõi thường xuyên INR, và đảm bảo bệnh nhân hiểu được tác động của warfarin và làm thế nào để nhận biết dấu hiệu của chảy máu. Bệnh nhân nên kiểm tra INR sau khi điều chỉnh liều, khi dùng bất cứ thuốc nào có tiềm năng tương tác, hoặc khi thay đổi chế độ ăn.

Để tránh giá trị INR nằm ngoài khoảng mục tiêu:
Ø  Xem xét tương tác thuốc tiềm tàng của warfarin
Ø  Đợi ít nhất 48h sau khi thay đổi liều wafarin mới đo giá trị INR, nếu kiểm tra sớm hơn sẽ không phản ánh được đầy đủ của việc điều chỉnh liều.
Ø  Nếu INR giảm dưới mục tiêu thì tránh tăng liều quá mức.
Ø  Giáo dục bệnh nhân thường xuyên.

Mặc dù chảy máu có thể xảy ra ngay cả khi INR nằm trong khoảng mục tiêu, nguy cơ chảy máu tăng lên khi INR tăng. Nếu INR tăng trong khoảng từ 4,5 đến 10, và không liên quan đến chảy máu hoặc nguy cơ cao chảy máu, có thể quản lý an toàn bằng việc không dùng warfarin nữa và theo dõicẩn thận INR. Vitamin K1 được uống hoặc tiêm tĩnh mạch để đối kháng tác dụng của warfarin cho bệnh nhân với INR trên 10 hoặc những người chảy máu hoặc nguy cơ cao chảy máu. Đối với những bệnh nhân không chảy máu, tránh quá liều vì sẽ khiến khó tái lập việc kiểm soát INR. Liều tĩnh mạch khởi đầu của vitamin K không quá 0,5-1 mg. Nếu cần đảo ngược tác dụng lập tức, bổ sung phức hợp prothrombin được ưu tiên hơn huyết thanh tươi đông lạnh.


Table 4. Suggested dose changes for maintaining INR within a target range of 2–3

Bảng 4: Sự thay đổi liều để duy trì INR trong khoảng mục tiêu từ 2-3
INR
Thay đổi liều
< 1,5
1,6 – 1,9
3,1 – 3,4
3,5 – 3,9
4,0 – 4,9
Tăng 20%
Tăng 10%
Giảm 10%, việc điều chỉnh có thể không cần thiết
Giảm 20%, cân nhắc ngưng cấp một liều
Ngưng cấp cho đến khi INR trở về khoảng mục tiêu, sau đógiảm 20-30%

Warfarin management strategies

Approaches for managing patients taking warfarin include:
Ø  usual care by the GP
Ø  patient self-monitoring
Ø  laboratory care program.

Anticoagulation clinics coordinate and optimise the delivery of anticoagulant therapy by providing specialised monitoring and management. Patients treated in anticoagulation clinics spend more time in the therapeutic range (50.4% vs 35%). They also experience less significant bleeding (8.1% vs 35%), major or fatal bleeding (1.6% vs 3.9%) or thromboembolic events (3.3% vs 11.8%).13 In general practice it should be possible to have patients within the therapeutic range 60% of the time.

Some centres use computer-assisted warfarin dosing.14 This assists in achieving a stable state of anticoagulation faster, and increases the overall percentage of time in the target range, potentially reducing the frequency of testing. It also reduces the risk of bleeding and thromboembolic events and is more cost-effective than manual dosing using clinical assessment.15

Point-of-care testing

Point-of-care testing of the INR can be done in general practice, in other locations such as pharmacies, or by the patients themselves (known as self-monitoring). These approaches are more convenient for patients than visits to an anticoagulation clinic in a pathology practice or in a hospital.

The convenience of self-monitoring can be extended further to a model of self-management. Patients use algorithms to determine any necessary dose adjustments following INR measurement.16 Evidence supports the practice of self-monitoring, with or without self-management, but an essential prerequisite is the ability of the patient to correctly, competently and safely use the testing devices.17

A number of randomised controlled trials of both self-monitoring and self-management have been included in systematic reviews and meta-analyses. 16,18–20 In three systematic reviews, self-monitoring and self-management had similar results to routine care in a hospital clinic. Patients undertaking self-monitoring had significant reductions in thromboembolic events and death, with more time in the target range, compared to those who did not self-monitor.18–20 A further systematic review of 22 randomised controlled trials showed similar results including a 26% reduction in death.21 A recent meta-analysis also found that patients who self-monitored had a reduced risk of thromboembolic events.16

Few studies have compared INR point-of-care testing by GPs with laboratory testing. A systematic review included three studies, but none showed improvements in the proportion of patients within the target range.22

An Australian trial of point-of-care testing in general practice included INR testing as well as other tests. While it showed improvements in glycated haemoglobin (HbA1c) and some lipid profiles, there was no such improvement for anticoagulated patients.23

There is evidence of a poor understanding of INR testing, including therapeutic guidelines, among physicians and GPs in several countries, including Australia.24 The possibility remains that the improved outcomes achieved by self-management may be because patients more consistently follow therapeutic guidelines, especially if they manage their doses using software algorithms.

Conclusion

Warfarin can be a challenging drug to manage, but if used appropriately it can be effective for the prevention of systemic embolism, stroke associated with atrial fibrillation, and venous thromboembolism. Regular monitoring and good patient education are important for successful treatment.
Chiến lược quản lý warfarin

Tiếp cận quản lý những bệnh nhân sau:
Ø  Chăm sóc thông thường bởi bác sĩ
Ø  Bệnh nhân tự theo dõi
Ø  Chương trình chăm sóc thử nghiệm

Cần phối hợp và tối ưu hóa việc sử dụng thuốc chống đông bằng cách cung cấp sự quản lý và theo dõi chuyên sâu. Bệnh nhân được điều trị trong phòng khám chuyên khoa dùng thuốc chống đông thì thời gian điều trị nằm trong khoảng điều trị dài hơn (50,4% so với 35%). Bệnh nhân cũng ít bị xuất huyết (8,1% so với 35%), chảy máu nặng hoặc gây tử vong (1,6% so với 3,9%) hoặc các biến cố huyết khối tắc mạch (3,3% so với 11,8%) hơn. Trong thực hành nói chung, nếu có thể nên để những bệnh nhân có giá trị INR trong khoảng điều trị hơn 60% thời gian dùng thuốc.

Một số trung tâm sử dụng máy tính để chỉnh liều warfarin. Điều này giúp đạt đến trạng thái ổn định của tác dụng chống đông nhanh hơn, và làm tăng tỷ lệ phần trăm tổng thể của thời gian nằm trong khoảng mục tiêu, có khả năng làm giảm tần suất kiểm tra. Nó cũng làm giảm nguy cơ chảy máu và các biến cố huyết khối tắc mạch, và có hiệu quả kinh tế hơn liều thông thường được tính toán dựa theo đánh giá lâm sàng.

Xét nghiệm nhanh tại chỗ (POCT)

Xét nghiệm nhanh tại chỗ (POCT) của INR sẽ được tiến hành trong phòng khám bệnh đa khoa, ở các địa điểm khác như nhà thuốc, hoặc chính bệnh nhân tự theo dõiĐiều này thuận tiện cho bệnh nhân hơn là phải đến phòngkhám chuyên khoa hoặc bệnh viện.

Sự thuận tiện của việc tự theo dõi có thể được mở rộng hơn nữa khi giáo dục bệnh nhân tự quản lý bệnh của mình. Bệnh nhân được hướng dẫn sử dụng thuật toán để quyết định bất cứ sự điều chỉnh liều cần thiết nào sau khiđo INR. Bằng chứng ủng hộ việc tự theo dõi INR, có hoặc không có tự quản lý bệnh, nhưng trước hết là bệnh nhân phải có khả năng sử dụng an toàn, thành thạo và chính xác thiết bị thử máu.

Một số thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng trong cả việc tự theo dõi và tự quản lý đã được đánh giá trong các bài tổng quan hệ thống và phân tích meta. Trong ba bài tổng quan hệ thống, tự theo dõi và tự quản lý cho kết quả điều trị giống với việc bệnh nhân được chăm sóc hằng ngày trong bệnh viện. Bệnh nhân tự theo dõi cho thấy có sự giảm đáng kể các biến cố huyết khối và t vong, với nhiều thời gian hơn trong khoảng mục tiêu, so sánh với những người không tự theo dõi. Một bài tổng quan hệ thống khác bao gồm22 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng chỉ ra những kết quảtương tự, bao gồm giảm 26% tỷ lệ tử vong. Một phân tích meta gần đây chỉ ra rằng bệnh nhân tự theo dõi có giảm nguy cơ huyết khối.

Số ít nghiên cứu so sánh sử dụng xét nghiệm nhanh tại chỗ INR bởi bác sĩ ở cộng đồng với các test tại các phòng xét nghiệm. Một bài tổng quan hệ thống bao gồm ba nghiên cứu, nhưng không có nghiên cứu nào chỉ ra có sự tăng tỷ lệ bệnh nhân trong khoảng mục tiêu.

Một thử nghiệm của Australia về xét nghiệm nhanh tại chỗ (POCT) trong thực hành tổng quát, bao gồm cả kiểm tra INR cũng như các test khác. Trong khi thử nghiệm này cho thấy sự cải thiện về chỉ số HbA1c và cácthông số về lipid, thì không có sự cải thiện nào như vậy ở bệnh nhân được điều trị chống đông.

Có bằng chứng cho thấy bác sĩ và bác sĩ cộng đồng ở một vài quốc gia, kể cả Australia vẫn còn hiểu biết kém về đo INR, bao gồm hướng dẫn điều trị.Có khả năng các kết quả điều trị sẽ cải thiện bằng sự tự quản lý là do bệnh nhân tuân thủ chặt chẽ hơn các hướng dẫn điều trị, đặc biệt nếu bệnh nhân quản lý liều thuốc bằng cách sử dụng những phần mềm thuật toán.

Kết luận

Warfarin có thể là một thuốc gây nhiều khó khăn trong việc quản lý, nhưng nếu được sử dụng thích hợp, warfarin có hiệu quả trong phòng ngừa tắc mạch, đột quỵ do rung nhĩ, huyết khối tĩnh mạch. Theo dõi thường xuyên và giáo dục bệnh nhân tốt là điều quan trọng để góp phần vào sự thành công của điều trị.

Đăng nhận xét

[facebook]

Admin

{facebook#https://www.facebook.com} {twitter#https://twitter.com/twitter} {google-plus#https://google.com} {pinterest#https://www.pinterest.com/} {youtube#https://youtube.com}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget