History classes are
our best hope for teaching Americans to question fake news and Donald Trump
Học lịch sử là
hi vọng tốt nhất để dạy cho người Mỹ biết đặt nghi vấn về những tin tức
giả mạo và về tân Tổng Thống Mỹ - Donald Trump!
As a novelist and
creative-writing professor, I believe in the importance of teaching college
students how to read and write fiction. But the undergraduate course I myself
found the most formative—the one that maps my daily intellectual path decades
later—was not a writing or English class, but a seemingly quotidian course at
Brown University called “History 52: The survey of American history from
Reconstruction to Nixon.”
Là một tiểu thuyết gia
và cũng là giáo sư về môn "viết sáng tạo", tôi tin về tầm quan trọng
của việc dạy sinh viên đại học cách đọc và viết tiểu thuyết. Tuy nhiên, trong
các khóa học đại học, bản thân tôi thấy ảnh hưởng nhất và liên kết những chuyện
hàng ngày trên lộ trình tri thức mười năm của tôi sau này, đó không phải
là một bài viết hay một lớp học tiếng Anh, mà là một khóa học dường như diễn ra
mỗi ngày tại Đại học Brown có tên gọi là "Lịch sử 52: Cuộc điều tra về
lịch sử nước Mỹ từ khi tái thiết đến đời Tổng Thống Mỹ Nixon."
On the first day of
class, the white-haired professor blasted Bruce Springsteen’s “Born in the USA”
as we walked in. He asked us point-blank, “What does it mean to be an
American?” I had come armed with a notebook and pen, ready to passively receive
information. Instead, we were being prompted to really engage with history—a
first for many of us in the classroom.
Vào ngày đầu tiên, khi
chúng tôi bước vào, giáo sư với mái tóc bạc trắng đã thổi bài hát "Born in
the USA"- tạm dịch là "Sinh ra trên đất Mỹ" của nam ca sĩ nhạc
Rock nổi tiếng người Mỹ- Bruce Springsteen. Ông ấy đã hỏi thẳng chúng tôi rằng,
"Thế nào là một công dân Mỹ?" Tôi đã đến lớp học với đầy đủ tập và
bút, sẵn sàng tiếp nhận thông tin một cách thụ động.Thay vào đó, chúng tôi đã
được nhắc nhở để gắn kết thực sự với lịch sử- đó là buổi đầu tiên đối với nhiều
người trong chúng tôi ở lớp học đó.
The history class gave
me the tools that would help me make sense of the worlds I was trying to write
about, both in fiction and nonfiction. I worry that too many young people today
are not being equipped with these tools—ones that will be of the utmost
importance as they come of age under the presidency of Donald Trump.
Lớp học lịch sử đã cho
tôi những công cụ để hiểu về những thế giới mà tôi đã cố gắng để viết về chúng,
bao gồm cả tiểu thuyết phi hiện thực và hiện thực. Tôi lo lắng rằng nhiều
người trẻ ngày nay không được trang bị những công cụ như thế. Những người trẻ
sẽ trở nên vô cùng quan trọng khi chúng đến tuổi trưởng thành dưới nhiệm kỳ của
Tổng Thống Donald Trump.
Between the 2013-2014
and 2014-2015 academic school years, undergraduate enrollment in history
classes fell by 7.6%, according to a survey this year from the American
Historical Association. The field has also seen a decline in history majors in the past
few years. Historian Sheyda Jahanbani has been monitoring the enrollments
crisis closely at her institution, the University of Kansas. “Our enrollments
are down 59% from 10 years ago,” she said.
Theo như cuộc khảo sát
năm nay từ Hiệp Hội Lịch Sử Mỹ, tuyển sinh đại học cho các lớp học lịch sử đã
giảm 7,6% giữa các năm đại học 2013-2014 và 2014-2015. Trường cũng đã nhìn thấy
một sự suy giảm trong chuyên ngành lịch sử trong vài năm qua. Nhà Sử học Sheyda
Jahanbani đã giám sát chặt chẽ cuộc khủng hoảng tuyển sinh tại cơ sở của bà tại
đại học Kansas nói rằng "Tuyển sinh của chúng tôi đã giảm 59% so với 10
năm trước đây".
James Grossman, the
executive director of the American Historical Society, confirmed via email that
broadly, “History enrollments are indeed declining.” This leads me to wonder
about the relationship between a culture that places less value on history and
that of an electorate that embraced a nativist, white-supremacist platform that
played on false nostalgia and longing for a “better” past.
Ông James Grossman-
Giám đốc điều hành của Hội Xã Hội Lịch sử Mỹ, đã xác nhận thông qua email nói
chung rằng "Tuyển sinh lịch sử đang thực sự giảm." Điều này đã làm
tôi tự hỏi về mối quan hệ giữa một nền văn hóa đặt ít giá trị vào lịch sử và
một nơi mà toàn bộ cử tri ủng hộ chính sách người bản xứ, chống lại người di cư
và những người ủng hộ thuyết cho rằng người da trắng là ưu việt mà họ đã lợi
dụng nỗi nhớ giả tạo và ao ước một quá khứ "tốt hơn".
History classes matter
because they help students learn to question the stories that are handed down
to us. In that survey class I took decades ago, through textbooks, archival
materials, and even novels, we reexamined the history I thought I knew—from the
post-bellum Reconstruction era to “separate but equal,” World War II,
Vietnam, and the cultural upheaval of the 1960s. As we went beyond the usual
primary versus secondary sources, we looked critically at how historical
narratives are constructed, probing them for weaknesses and false assumptions.
We learned to ask whose interest a given narrative served, and what tools
different historians had used to come their conclusions. It was entirely
different than the write-down-and-memorize-the-dates learning we’d done in
high-school history class. It soon dawned on me that the “good old days” that
older people were always talking about had never really existed. Their
nostalgia was real, for sure, but each period had its injustices and
complexities.
Các lớp học lịch sử
quan trọng vì chúng giúp học sinh đặt nghi vấn về những câu chuyện được truyền
lại cho chúng ta. Trong cuộc khảo sát ở lớp học đó mà tôi đã mất nhiều thập kỷ
trước đây, thông qua sách giáo khoa, tài liệu lưu trữ, và thậm chí cả tiểu
thuyết, chúng tôi đã xem xét lại lịch sử. Tôi nghĩ rằng tôi biết tất cả từ Thời
đại tái thiết sau chiến tranh cho đến học thuyết "phân chia nhưng bình
đẳng", chiến tranh thế giới thứ II, chiến tranh ở Việt Nam, và các biến
động văn hóa của những năm 1960. Khi chúng tôi đã tìm hiểu vượt quá giới hạn
nguồn tài liệu sơ cấp thông thường so với các nguồn tài liệu thứ cấp, chúng tôi
đã có cái nhìn phản biện về cách những câu chuyện kể về lịch sử được xây dựng,
điều tra kĩ lưỡng về những điểm yếu và những giả định sai lầm. Chúng tôi đã học
về cách hỏi xem ai là những người quan tâm đến những câu chuyện được viết ra và
những công cụ khác nhau mà các nhà sử gia đã sử dụng để đưa đến những kết luận
của họ. Điều đó hoàn toàn khác so với việc ghép xuống tập và ghi nhớ những ngày
tháng mà chúng tôi đã làm khi học ở lớp lịch sự thời phổ thông. Nó nhanh chóng
cho tôi liên tưởng về thời huy hoàng xa xưa chưa từng thực sự tồn tại mà những
người lớn tuổi đã luôn nói về chúng. Nỗi nhớ của họ là có thật, chắc chắn là
như vậy, tuy nhiên mỗi giai đoạn có những bất công và sự phức tạp riêng của nó.
For my final paper, I
decided use my parents’ experience in 1950s Birmingham under anti-Asian
immigration laws and Jim Crow to discuss the rise of the Civil Rights movement.
I’d never thought of myself and my family as being a part of history, but the
teaching assistant in my class liked the idea and pushed me to think more
deeply about my subject. I learned to become comfortable with the idea that
history is the story of everyday people—not just US presidents and generals,
but the individuals who comprise movements and eras. And so I began to examine
all the history that had shaped my parents’ immigrant “success” story: how a
fresh outburst of racism and xenophobic fervor in the 1920s had led to a second
rise of the Ku Klux Klan and anti-immigration laws that led, decades later, to
the deportation orders my parents received the day I was born.
Dành cho trang viết
cuối của mình, tôi quyết định sử dụng trải nghiệm của cha mẹ tôi trong những
năm 1950 ở Birmingham dưới thời đạo luật chống nhập cư Châu Á và chế độ phân
chủng chống lại người da đen "Jim Crow" để thảo luận về sự phát triển
của "Cuộc Vận Động Dân Quyền". Tôi chưa bao giờ nghĩ đến bản thân
mình và gia đình tôi như là một phần của lịch sử, nhưng các trợ lý giảng dạy
trong lớp học của tôi thích ý tưởng này và thúc đẩy tôi suy nghĩ sâu sắc hơn về
chủ đề của chính mình. Tôi đã học cách để trở nên thoải mái với ý tưởng rằng
lịch sử là câu chuyện về con người hàng ngày, không chỉ là các Tổng Thống Mỹ và
Đại tướng mà còn là các cá nhân trong các thời đại và các cuộc vận động. Và vì
vậy tôi bắt đầu xem xét tất cả lịch sử đã tạo nên câu chuyện nhập cư thành công
của cha mẹ tôi: làm thế nào một sự bùng nổ mới mẻ của việc phân biệt chủng tộc
và sự bài ngoại sôi nổi trong những năm 1920 đã dẫn đến sự gia tăng thứ hai của
đạo luật Ku Klux Klan và những luật chống nhập cư và những thập kỷ sau đó đã
đưa đến những lệnh trục xuất mà cha mẹ tôi nhận được vào ngày tôi được sinh ra.
Today, in a time of
economic uncertainty, many students are being encouraged to skip history and
other liberal arts classes in favor of a practical STEM focus. But this
election has shown that nothing could be more practical for Americans than a
deep immersion in our country’s history.
Hôm nay, trong một
thời điểm bất ổn của nền kinh tế, nhiều sinh viên được khuyến khích bỏ qua lịch
sử và các lớp học nghệ thuật tự do khác, ủng hộ việc tập trung vào thực hành
các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học. Thế nhưng cuộc bầu cử
này đã chỉ ra rằng không có gì có thể thực tế hơn cho người Mỹ là sự đắm chìm
trong lịch sử nước nhà.
As The New York Times
reported, our president-elect demonstrates a “willful lack of interest in history.” For
example, he credulously and bombastically stated on the campaign trail that “our
African-American communities are absolutely in the worst shape they’ve ever
been in before. Ever. Ever. Ever.” (Those familiar with Jim Crow, the
Birmingham bombings—oh, and slavery—would beg to differ.)
Theo như tờ báo The
New York Times đưa tin, Tổng thống mới đắc cử của chúng ta cho thấy một sự chủ
ý thiếu quan tâm đến lịch sử. Ví dụ, ông tuyên bố một cách khoa trương và cả
tin trong chiến dịch tranh cử rằng "cộng đồng người Mỹ gốc Phi của chúng
ta đang hoàn toàn ở trong tình trạng tồi tệ nhất họ từng có trước đó. Chưa!
Chưa bao giờ! Chưa bao giờ hết! "(Chúng rất quen thuộc với chế độ Jim
Crow, các vụ đánh bom ở Birmingham, và nô lệ cầu xin để khác biệt.)
Despite Trump’s
ignorance of history—or perhaps because of his willingness to
manipulate it to suit his own purposes—he won. Pundits were quick to heap the
responsibility for his win on the “less educated,” resorting to the well-worn
trope of the gullible working-class rube easily swayed by the false populist; a
narrative that “seems” right. But a closer look at the voter breakdown, as our
History 52 professor would have had us do, uncovers contradictory evidence.
Mặc dù không hiểu biết
về lịch sử hoặc có lẽ vì ông sẵn sàng vận dụng nó cho phù hợp với chính mục
đích của mình mà ông đã giành được chiến thắng. Các chuyên gia đã nhanh chóng
đẩy trách nhiệm cho chiến thắng của ông về việc "ít học", tận dụng
các phép chuyển nghĩa cũ của tầng lớp lao động quê mùa cả tin dễ bị ảnh hưởng
bởi chủ nghĩa đại chúng sai lầm; thì một câu chuyện kể "có vẻ" đúng.
Nhưng nhìn gần hơn vào sự khủng hoảng của cử tri, khi giáo sư môn Lịch sử 52 đã
làm với chúng tôi và phát hiện ra bằng chứng mâu thuẫn.
It’s true that Trump
was favored by voters without college degrees. But he also won among voters
with some college or an associate’s degree. Even more strikingly, college
graduates voted for him almost as often as they did Clinton: 45% to her 49%, according to the New York
Times exit polls, while white college graduates actually preferred Trump. These
demographic breakdowns suggest the issue may be less about a lack of higher
education and more about the direction in which higher education has been
heading over recent decades.
Đó là sự thật rằng ông
Trump đã được yêu thích bởi các cử tri không có bằng đại học.Tuy nhiên, ông
cũng giành được chiến thắng từ các cử tri ở một số trường đại học hoặc bằng dự
bị đại học. Đáng chú ý hơn là sinh viên tốt nghiệp đại học bình chọn cho ông
gần giống như họ đã bầu cho ứng viên Clinton: 45% đến 49%, theo các cuộc thăm
dò của tờ báo New York Times, trong khi sinh viên da trắng tốt nghiệp đại học
thực sự ưa thích Trump. Những sự cố về nhân khẩu học cho thấy vấn đề này có thể
ít liên quan về sự thiếu giáo dục đại học và nhiều hơn nữa về hướng đi mà giáo
dục đại học đã được tiến lên qua các thập kỷ gần đây.
Perhaps it was no
coincidence that Trump made his ahistorical pronouncements about African
Americans while in North Carolina, a state whose governor, Pat McCrory, is
famously leading a charge to incentivize enrollments in “job-friendly” classes
and majors, with a focus in STEM. In a 2013 radio interview, McCrory averred
humanities classes were fine in principle, “but I don’t want to subsidize that
if that’s not going to get someone a job.”
Có lẽ không phải là
ngẫu nhiên mà Ông Trump đã có những lời tuyên bố phi lịch sử về người Mỹ gốc
Phi trong khi ở Bang Bắc Carolina, thống đốc của bang này là ông Pat McCrory,
nổi tiếng dẫn đầu về khoản phí để khuyến khích tuyển sinh trong các lớp học về
"Công việc thân thiện" và các chuyên ngành tập trung vào các lĩnh vực
khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học.Trong một cuộc phỏng vấn phát thanh
vào năm 2013, ông McCrory quả quyết rằng các lớp học nhân văn này tốt về việc
dạy những luân lý cơ bản và ông nói thêm "Tuy nhiên, tôi không muốn trợ
cấp nếu điều đó không giúp cho ai đó có một công việc".
Do we want higher
education merely to produce workers, or do we want students equipped with the
skills to understand, question, create? History does much more than prepare
people to become professional historians. It teaches us how to think—that is,
how to do the high-level analysis that is essential for an informed society. It
requires analysis of data and deep research, as well as the use of archival and
primary sources. Such skills are absolutely critical in an era that is
increasingly characterized by the relentless bombardment of information.
Liệu chúng ta muốn có
một nền giáo dục Đại học chỉ đơn thuần là để sản xuất lao động, hay chúng ta
muốn sinh viên được trang bị những kỹ năng để hiểu biết, để đặt câu hỏi và để
sáng tạo? Lịch sử còn hơn cả sự chuẩn bị của con người để trở thành những nhà
sử học tài ba. Lịch sử dạy chúng ta cách suy nghĩ, đó là cách phân tích ở mức
độ cao hơn, mà đó là điều cần thiết cho xã hội thông tin. Một xã hội đòi hỏi
phải phân tích dữ liệu và nghiên cứu thật sâu sắc, cũng như việc sử dụng các
nguồn tài liệu lưu trữ và sơ cấp.Các kỹ năng như vậy thực sự vô cùng quan trọng
trong một thời đại mà ngày càng được đặc trưng bởi sự bùng nổ không ngừng của
thông tin.
This election in
particular has been plagued by misinformation. First, there is the
preponderance of fake news that “seems” true. Our professor helped us realize
that just because an article is published doesn’t necessarily mean it’s
legitimate. Yet many fake stories this election cycle—including ones intended
as over-the-top satire—were quickly shared on social platforms, their virility
creating an aura of legitimacy. Anyone could download a GIF of a red banner with
BREAKING NEWS! on it and engineer her own news story.
Cụ thể, cuộc bầu cử
lần này đã bị ảnh hưởng bởi những thông tin sai lệch. Đầu tiên, đó là hầu hết
các tin tức giả mạo đều có vẻ là đúng. Giáo sư của chúng tôi đã giúp chúng tôi
nhận ra rằng chỉ vì một bài báo được xuất bản không nhất thiết có nghĩa là nó
hợp pháp.Tuy nhiên, nhiều câu chuyện giả trong chu kỳ của cuộc bầu cử bao gồm
cả những câu chuyện giả mạo như những lời châm biếm quá đáng đã nhanh chóng
được chia sẻ trên các diễn đàn xã hội, sức mạnh của chúng tạo ra cảm giác về
tính hợp pháp trong những câu chuyện đó. Bất cứ ai cũng có thể tải về một ảnh
GIF(Một khuôn thức tệp đồ họa màu ánh xạ bit dùng cho máy tính loại tương
thích-IBM) của một băng rôn màu đỏ với bản tin sốt dẻo trên đó và bịa ra chính
câu chuyện của riêng họ.
Legitimate news
sources can also go astray. The Washington Post recently began an article about
FBI director James Comey with this lead: “From Elliot Ness to Clarice Starling,
the image of the FBI—unflappable, smart and relentlessly fair—has been
sterling.” This statement omits years of troubled history at the federal
agency, especially of former director J. Edgar Hoover. (And Ness actually wasn’t even an FBI agent: He was employed by
the Treasury department.)
Cả những nguồn tin
chính thống cũng có thể sai lệch về thông tin. Tờ báo "The Washington
Post" mới gần đây đã bắt đầu với một bài viết về giám đốc của FBI là ông
James Comey với lời dẫn này: "Đặc vụ Elliot Ness và Clarice Starling, hình
ảnh của FBI là những người bình tĩnh, thông minh và luôn công bằng, là hình ảnh
của những chân giá trị." Tuyên bố này đã bỏ qua những năm lịch sử khó khăn
tại cơ quan liên bang, đặc biệt là của cựu giám đốc J. Edgar Hoover. (Và Ness
thậm chí không phải là một nhân viên FBI, ông làm việc cho Bộ Tài Chính.)
Nor can Americans
afford to treat the words of public figures uncritically. Former mayor of New
York Rudy Giuliani declared Trump’s win “one of the greatest
victories for the people of America since Andrew Jackson,” a reference that
takes on new meaning if one is aware of Jackson’s history as a slave trader and a
proponent of Indian genocide.
Người dân Mỹ cũng
không thể đủ sức đánh giá không suy xét những phát ngôn của các nhân vật hoạt
động xã hội. Cựu Thị trưởng New York, ông Rudy Giuliani tuyên bố chiến thắng
của Trump là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất cho người dân Mỹ kể từ
thời tổng thống Andrew Jackson, là một phản ánh mang đến một ý nghĩa mới nếu ai
đó biết rõ về lịch sử của Jackson như một người buôn bán nô lệ và là người đề
xuất diệt chủng Ấn Độ.
Perhaps it is time to
take some of our obsession with STEM and redirect a portion of that enthusiasm
to the old-fashioned study of history. As Grossman of the AHA points out, “One
of the many lessons that the current campaign has been teaching us is that historical
thinking and historical understanding is imperative to civic culture.”
Có lẽ đã đến lúc mang
một phần sự ám ảnh của chúng ta về các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật
và toán học và chuyển phần nhiệt huyết đó sang nghiên cứu lịch sử cổ điển về
lịch sử. Như Ông James Grossman- Giám đốc điều hành của Hội Lịch sử Mỹ chỉ ra
rằng: "Một trong nhiều bài học mà chiến dịch hiện tại đã dạy cho chúng ta
đó là tư duy lịch sử và hiểu biết về lịch sử là cấp bách cho một nền văn hóa
chính trị.
Expanding the study of
history could be an essential bulwark against the rising tide of
misinformation, manipulation, and lies. A frustrated president Obama said Nov. 17 of the preponderance of fake
news and misleading rhetoric on social media and TV news, “If everything seems
to be the same and no distinctions are made, then we don’t know what to
protect. We won’t know what to fight for.” In the post-factual fight, understanding
history is our most important weapon.
Mở rộng nghiên cứu
lịch sử có thể là một thành trì chống lại các làn sóng các thông tin sai lệch,
sự thao túng và những lời dối trá. Lời phát ngôn thất vọng của Tổng thống Obama
vào ngày 17 Tháng 11 về hầu hết các tin tức giả mạo và hùng biện sai lệch về truyền
thông xã hội và tin tức truyền hình, ông nói rằng "Nếu tất cả mọi thứ có
vẻ là giống nhau và không có sự phân biệt nào thì sau đó chúng ta không biết
chúng ta đang bảo vệ cho điều gì cả. Chúng ta cũng sẽ không biết mình đang đấu
tranh cho điều gì." Trong cuộc chiến đấu thực tế sau đó, hiểu biết lịch sử
là vũ khí quan trọng nhất của chúng ta.
Source: Marie Myung-Ok Lee
CỤM TỪ LIÊN QUAN
(to) be equipped with
được trang bị với
Undergraduate
enrollment
tuyển sinh đại học
(to) become
comfortable with
trở nên thoải mái với
(to) be favored by
được ưa chuộng bởi
It was no coincidence
that
Không phải ngẫu nhiên
rằng
(to) be increasingly
characterized by
ngày càng đặc trưng
bởi
the relentless
bombardment of information
Sự bùng nổ không ngừng
của thông tin
(to) passively receive
information
tiếp nhận thông tin
một cách thụ động
civic culture
văn hóa chính trị



Đăng nhận xét