Japan- Land of the rising
Nhật Bản- Đất nước mặt trời mọc
Japan has a significantly better record in terms of average
mathematical attainment than England and Wales. Large sample international
comparisons of pupils' attainments since the 1960s have established that
not only did Japanese pupils at age 13 have better scores of average
attainment, but there was also a larger proportion of 'low' attainers
in England, where, incidentally, the variation in attainment scores was
much greater. The percentage of Gross National Product spent on education
is reasonably similar in the two countries, so how is this
higher and more consistent attainment in maths achieved?.
Nhật Bản có một thành tích đáng nể về thành tựu toán học so với
Anh và xứ Wales. So sánh ở cấp độ lớn hơn trên trường quốc tế về thành tựu các
học sinh từ những năm 1960 thì không chỉ học sinh Nhật Bản ở độ tuổi 13 có điểm
số trung bình tốt hơn, mà tỷ lệ học sinh có thành tích thấp ở Anh cũng cao vì
tình cờ nơi đây có sự biến động về điểm số rất lớn.Tỷ lệ phần trăm của tổng sản
phẩm quốc gia chi cho giáo dục ở hai quốc gia trên tương đối giống nhau, do đó
làm thế nào để đạt được thành tích cao hơn và nhất quán hơn trong môn toán?.
Lower secondary schools in Japan cover three school years, from
the seventh grade (age 13) to the ninth grade (age
15) . Virtually all pupils at this stage attend state schools: only 3
per cent are in the private sector. Schools are usually
modem in design, set well back from the road and spacious
inside. Classrooms are large and pupils sit at single desks in rows.
Lessons last for a standardised 50 minutes and are always followed by a
10-minute break, which gives the pupils a chance to let off steam. Teachers
begin with a formal address and mutual bowing, and
then concentrate on whole-class teaching.
Trường trung học cơ sở ở Nhật Bản bao gồm ba năm học, từ lớp bảy
(13 tuổi) đến lớp chín (15 tuổi). Hầu như tất cả các học sinh ở giai đoạn này
đều học tại các trường nhà nước: chỉ có 3 phần trăm là học ở khu vực tư nhân.
Trường học thường có thiết kế rất hiện đại, được sắp xếp rất tốt ngay từ đường
đi vào và cả bên trong rộng rãi. Phòng học lớn và mỗi em học sinh được ngồi một
bàn theo hàng dọc. Những bài học kéo dài theo tiêu chuẩn 50 phút và luôn luôn
có 10 phút giải lao, cho các em học sinh cơ hội để xả hơi. Giáo viên bắt đầu
với một nghi thức trang trọng là cúi chào lẫn nhau, và sau đó cả lớp tập trung
vào bài giảng.
Classes are large - usually about 40 - and are unstreamed.
Pupils stay in the same class for all lessons throughout the school and
develop considerable class identity and loyalty. Pupils attend
the school in their own neighbourhood, which in theory removes
ranking by school. In practice in Tokyo, because of the
relative concentration of schools, there is some competition to get into
the 'better' school in a particular area.
Các lớp học rất rộng - thường khoảng 40 em và không phân luồng.
Các học sinh ngồi cùng một lớp học cho tất cả các môn trong suốt quá trình đi
học để phát triển khả năng đồng nhất và lòng trung thành rất đáng nể. Học sinh
học tại trường ở gần nhà mà trên lý thuyết là không phân biệt xếp hạng giữa các
trường. Trong thực tế ở Tokyo, do việc tập trung tương đối lớn các trường học ở
đây nên có một sự cạnh tranh nào đó để được vào trường 'tốt hơn' trong một khu
vực cụ thể.
Traditional ways of teaching form the basis of the lesson and
the remarkably quiet classes take their own notes of the points made and the
examples demonstrated. Everyone has their own copy of the textbook
supplied by the central education authority, Monbusho, as part of
the concept of free compulsory education up to the age of
15. These textbooks are, on the whole, small, presumably inexpensive
to produce , but well set out and logically developed. (One teacher
was particularly keen to introduce colour and pictures into maths
textbooks: he felt this would make them more accessible to
pupils brought up in a cartoon culture.) Besides approving textbooks,
Monbusho also decides the highly centralised national curriculum and how
it is to be delivered.
Các cách dạy học truyền thống hình thành nên nền tảng của bài
học và các lớp học cực kỳ yên tĩnh là minh chứng cho các luận điểm về dạy học ở
trên. Mỗi em học sinh đều có bản sao những cuốn sách giáo khoa được cung cấp
bởi các cơ quan giáo dục trung ương, gọi là Monbusho, như là một phần của khái
niệm giáo dục bắt buộc miễn phí cho đến tuổi 15. Về tổng thể thì các sách giáo
khoa thường nhỏ và có lẽ khá rẻ để sản xuất nhưng cũng được sắp xếp và phát
triển rất hợp lý. Một giáo viên được đặc biệt chỉ định để vẽ các màu sắc và
hình ảnh minh hoạ cho sách giáo khoa môn toán: giáo viên cảm thấy điều này sẽ
giúp các em học sinh lớn lên trên nền văn hoá phim hoạt hình dễ tiếp cận bài học
hơn. Bên cạnh việc phê duyệt sách giáo khoa, Monbusho cũng quyết định các
chương trình học tập trung cho cả nước và cách thức triển khai chương trình
này.
Lessons all follow the same pattern. At the beginning, the
pupils put solutions to the homework on the board, then the
teachers comment, correct
or elaborate as necessary. Pupils mark their own
homework : this is an important principle in Japanese
schooling as it enables pupils to see where and why they made a
mistake, so that these can be avoided in future. No one minds mistakes or
ignorance as long as you are prepared to learn from them.
Các bài học đều tuân theo cùng một khuôn mẫu. Lúc đầu, các em
học sinh giải các bài tập trên bảng, sau đó giáo viên sẽ nhận xét, chỉnh sửa
hoặc xây dựng nếu cần thiết. Học sinh sẽ tự chấm điểm bài tập về nhà của mình:
đây là một nguyên tắc quan trọng trong việc học ở Nhật vì nó cho phép học sinh
biết được chúng đã làm sai ở đâu và vì sao sai, do đó chúng có thể được tránh
sai lầm này trong tương lai. Sẽ không để ý những sai lầm này nếu bạn đang học
hỏi từ chúng.
After the homework has been discussed, the teacher explains the
topic of the lesson, slowly and with a lot of repetition and elaboration .
Examples are demonstrated on the board; questions from the textbook are
worked through first with the class, and then the class is set questions
from the textbook to do individually. Only rarely
are supplementary worksheets distributed in a maths class. The
impression is that the logical nature of the textbooks and their comprehensive
coverage of different types of examples, combined with the
relative homogeneity of the class, renders work sheets unnecessary. At
this point, the teacher would circulate and make sure that all the pupils
were coping well.
Sau khi các bài tập đã được thảo luận, giáo viên sẽ giải thích
các chủ điểm của bài học rất chậm với nhiều sự lặp lại và chỉnh sửa. Các ví dụ
được minh hoạ trên bảng; các câu hỏi từ sách giáo khoa được thảo luận trước
trên lớp sau đó mỗi em trong lớp sẽ phải trả lời các câu hỏi từ sách giáo khoa
này. Các bảng tính phụ trợ hiếm khi được sử dụng trong lớp học toán. Ấn tượng
là bản chất logic của sách giáo khoa và việc bao phủ toàn diện của sách về các
thể loại khác nhau của ví dụ, kết hợp với sự đồng nhất tương đối của lớp học,
làm cho các bản tính trở nên không cần thiết. Đến lúc này, giáo viên sẽ cho lưu
hành sách và đảm bảo rằng tất cả các em học sinh đều được theo kịp.
It is remarkable that large, mixed-ability classes
could be kept together for maths throughout all their compulsory schooling from
6 to 15. Teachers say that they give individual help at the end
of a lesson or after school, setting extra work if necessary. In
observed lessons, any strugglers would be assisted by the teacher or
quietly seek help from their neighbour . Carefully fostered
class identity makes pupils keen to help each other - anyway, it
is in their interests since the class progresses together.
Đáng chú ý là các lớp học này là hỗn hợp các em có khả năng khác
nhau và học môn toán bắt buột chung suốt từ 6 đến 15 tuổi. Các giáo viên nói
rằng họ luôn giúp đỡ mỗi em học sinh vào cuối mỗi một bài học hoặc sau giờ học
hay trợ giảng thêm nếu cần thiết. Trong các bài học mà chúng tôi quan sát, bất
kỳ em nào gặp khó khăn sẽ được sự hỗ trợ bởi các giáo viên hoặc sự giúp đỡ lặng
lẽ từ bạn bè bên cạnh. Bản sắc giúp đỡ được nuôi dưỡng cẩn thận này làm cho học
sinh quan tâm giúp nhau nhau và dù sao, đó là vì lợi ích của các em vì cả lớp
sẽ cùng phát triển chung với nhau.
This scarcely seems adequate help
to enable slow learners to keep up. However, the
Japanese attitude towards education runs along the lines of 'if
you work hard enough, you can do almost anything'. Parents are
kept closely informed of their children's progress and will play
a part in helping their children to keep up with class, sending them
to 'Juku' (private evening tuition) if extra help is needed
and encouraging them to work harder . It seems to work, at least for
95 per cent of the school population.
Do đó hiếm có trường hợp giúp các em học chậm để theo kịp. Tuy
nhiên, thái độ của Nhật Bản đối với giáo dục là theo chủ nghĩa đổi mới tức “nếu
bạn làm việc đủ chăm chỉ thì bạn có thể làm hầu hết mọi thứ". Phụ huynh
được nắm bắt thông tin chặt chẽ về sự tiến bộ của con mình và sẽ đóng vai trò
trong việc giúp con cái của họ để theo kịp với lớp như gửi chúng đến lớp 'Juku
"(lớp bổ trợ buổi tối) để học thêm và được khuyến khích học tập chăm chỉ
hơn. Việc này có hiệu quả ít nhất là 95 phần trăm của số học sinh.
So what are the major contributing factors in the
success of maths teaching? Clearly, attitudes are important. Education is
valued greatly in Japanese culture; maths is recognised as an
important compulsory subject throughout schooling ;
and the emphasis is on hard work coupled with
a focus on accuracy.
Vậy các yếu tố góp phần quan trọng trong sự thành công của việc
giảng dạy toán học là gì? Rõ ràng là thái độ rất quan trọng. Giáo dục được đánh
giá rất cao trong văn hóa Nhật Bản; toán được công nhận là một môn học bắt buộc
quan trọng trong suốt học kỳ; và trọng tâm là học tập chăm chỉ kết hợp với sự
tập trung vào tính chính xác.
Other relevant points relate to the
supportive attitude of a class towards slower pupils, the
lack of competition within a class, and the positive emphasis on
learning for oneself and improving one's own standard. And the view of
repetitively boring lessons and learning the facts by heart, which is
sometimes quoted in relation to Japanese classes, may be unfair and
unjustified. No poor maths lessons were observed. They were mainly good and
one or two were inspirational.
Các quan điểm khác liên quan đến thái độ hổ trợ của lớp đối với
các học sinh chậm, thiếu khả năng cạnh tranh trong lớp, và về điểm mạnh tích
cực của việc tự học và nâng cao tiêu chuẩn của chính mình.Và quan điểm về các
bài học nhàm chán lặp đi lặp lại và việc học vẹt mà đôi khi được trích dẫn liên
quan đến các lớp học ở Nhật, có thể được xem là bất công và phi lý.Không có bài
toán nào được xem là dỡ cả. Mà chủ yếu là các bài này hay và được truyền cảm
hứng đến học sinh như thế nào.
Source: Cambridge IELTS 8



Đăng nhận xét