Study
Confirms Association Between Cancers of Breast, Thyroid
The likelihood of thyroid cancer (TC) and breast cancer (BC) occurring in the same woman are greater than would occur by chance, a new study suggests.
The findings, from a retrospective
case-control single-center study, were published in the
December 2015 issue of Thyroidby
Jee Hyun An, MD, PhD, of Seoul National University College of Medicine, South
Korea, and colleagues.
In
the study, 4.3% of TC patients subsequently developed BC, and 2.6% of BC
patients later were found to have TC, both rates more than twice as high as
the expected rates of each cancer in the general population.
Some
of the increase is likely due to greater surveillance among women who already
had one cancer. However, expression of both estrogen and progesterone
receptors was significantly higher in the tissues of BC patients with
coexisting TC compared with those who had only BC, suggesting that a specific
molecular pathogenesis might underlie the association, Dr An and colleagues
argue.
Clinically,
they say, the findings suggest that regular breast examination — as
recommended for the general population — should be emphasized in women with
TC. However, because there were no clinical predictors of TC development
among the BC patients compared with those with TC alone and no evidence of
improved prognosis for early TC diagnosis, "screening for TC in BC
patients cannot be recommended, irrespective of the patient's age at BC
diagnosis."
Asked
to comment, Jennifer H Kuo, MD, director of the thyroid biopsy program and
the endocrine surgery research program at Columbia University, New York, told Medscape Medical News that the
findings generally align with previous studies, including her own on both TC following BC and BC after TC.
"This
is a single-institution retrospective study evaluating the link between
breast cancer and thyroid cancer....Their findings more or less corroborate
findings from previous, similar studies — that there is a connection between
the two diseases; the higher incidence goes beyond what you would expect from
pure surveillance; second malignancies develop an average of 5 years from the
first; and the cancers that result tend to be small, nonaggressive,
[estrogen-receptor/progesterone-receptor–positive] tumors. Unfortunately, it
still does not provide an answer to the etiology of this connection, which is
likely to be multifold."
With
regard to screening recommendations,
Dr
Kuo said, "I do in general advocate for screening for these diseases.
However, the biggest resistance comes from screening breast-cancer survivors
for thyroid cancer. There is an overdiagnosis of thyroid cancer in general,
and the pendulum is swinging to be less aggressive in its treatment, as
reflected in the new
American Thyroid Association guidelinespublished last year. I advocate
for screening, but cautiously.
"I
think that in general the evidence is out there that breast and thyroid
cancer are connected….There should be more of an effort now to identify what
the cause of this association is," she told Medscape Medical News,
The
study population included 4243 female patients first diagnosed with primary
papillary or follicular TC who underwent total thyroidectomy and 6833 with
primary BC who had curative surgery. Of those, 181 were diagnosed with the
other cancer over the 40-year study period (1970–2009), including 4.3% of the
TC group and 2.6% of the BC patients.
A
total of 55 patients had TC followed by BC, 81 had BC first and then
developed TC, and 45 had concomitant disease, defined as having both
diagnoses within 2 years of one another (of whom the majority had TC
identified incidentally during diagnosis of BC).
Those
groups were matched 1:3 with controls who only had just one or the other
cancer within the same time periods, matched for age at diagnosis and time of
surgery.
Among
the TC-first/BC-second group, the breast cancers were significantly more
likely to be ductal carcinoma in situ (DCIS), at 29%, than in either the
BC-first/TC-second (10%) or the concurrent-TC/BC group (10%) and less likely
to be infiltrative ductal carcinoma (69% vs 86.5% and 80%, respectively).
Expression
of both estrogen and progesterone receptors was significantly higher in the
groups with concurrent TC and BC (82% estrogen-receptor expression) and with
TC first/BC second (89%) compared with the BC-first/TC-second group (68%),
suggesting that receptor signaling might represent common etiological factors
in the development of both cancers, the authors speculate.
Breast
Cancer Following Thyroid Cancer
The
mean latency from diagnosis with TC to the development of BC was 5.2 years.
In
patients with TC, BC development was greater than in the general population,
with a standardized incidence ratio of 2.45.
Since
the increased incidence of BC following TC might be attributable to the
incidental detection of BC during follow-up of TC or to frequent health
checkups following TC (especially in the cases detected within 5 years), Dr
An and colleagues excluded cases that were incidentally detected by imaging
during medical follow-up of TC. This reduced the standardized incidence
ratio, but to a still-significant 2.16.
Comparing
the 55 patients in the TC-first/BC-second group with their 165 matched
controls, mean age at diagnosis of BC, median duration of follow-up after
diagnosis with BC, and family history of BC were similar between the two
groups. However, the percentage of DCIS was significantly higher (29.1% vs
8.5%, P < .05),
and tumor size was smaller (1.7 vs 2.5 cm, P < .05).
Patients
who had BC within 5 years following TC also had smaller tumor sizes, a higher
proportion of DCIS, and a lower recurrence rate compared with those who
developed BC after more than 5 years. The expression of estrogen and
progesterone receptors did not differ between those who developed BC within 5
years of TC or later but were significantly higher in both subgroups compared
with the controls (P <
.05).
Between
the TC-first/BC-second patients and their controls, there were no differences
in family history of TC, histological type, tumor size, lymph nodes and
distant metastasis, multifocality, extrathyroidal extension, tumor
recurrence, and radioactive-iodine therapy, regardless of the time to
detection of BC.
Thyroid
Cancer Following Breast Cancer: No Clinical Predictors
The
mean latency from BC to the development of TC was 5.9 years, and the
standardized incidence ratio was 2.18 compared with TC in the general
population. After exclusion of cases incidentally detected by imaging
performed for BC follow-up, the incidence ratio was reduced but still
significant, at 1.73.
The
incidence of second primary TC was significantly higher within the first 5
years of BC diagnosis and then decreased over time (P < .01).
Similar
to the TC-first/BC-second group, the detection rate of TC in the process of a
medical checkup and health screening was relatively higher within 5 years
after the diagnosis of BC.
Compared
with their control group, those diagnosed with TC within 3 years of BC had
smaller tumors (1.5 vs 2.0 cm) but did not differ in mean age at diagnosis,
TC tumor type (more than 90% were papillary thyroid cancer for both), tumor
size, lymph-node positivity, distant metastasis, multifocality,
extrathyroidal extension, and recurrence rate (4.9% vs 6.2%), suggesting no
clinical predictors for TC development, Dr An and colleagues note.
Expression
of both estrogen and progesterone receptors was significantly higher in the
BC-first/TC-second group compared with controls (68% vs. 55% for estrogen
receptors), and these results were similar regardless of time between the two
diagnoses.
In
addition to the possibility that hormone receptors may play a role in the
pathogenesis of TC as they do in BC, the effect of treatment for either
cancer may also play a role, the authors note.
Neither
the study authors nor Dr Kuo have relevant financial relationships.
|
Nghiên
cứu về mối liên quan giữa ung thư vú và ung thư tuyến giáp
Nghiên cứu về mối liên quan giữa ung
thư vú và ung thư tuyến giáp Kết quả từ nghiên cứu đối chứng đơn trung tâm được
công bố trên tạp chí tuyến giáp tháng 12 2015 bởi TS.BS Ji Hyun An, Trường
Y khoa quốc gia Seoul, Hàn Quốc, và các đồng nghiệp cho thấy
tỉ lệ phụ nữ mắc cả hai loại ung thư tuyến giáp (thyroid
cancer) và ung thư vú (breast cancer) cao hơn so với tỉ lệ mắc mỗi bệnh trong
cộng đồng.
Trong nghiên cứu này, 4,3% bệnh nhân ung thư tuyến giáp ghi nhận có phát triển ung thư vú, và 2,6% bệnh nhân ung thư vú sau đó mắc ung thư tuyến giáp, các tỉ lệ này cao gấp đôi so với tỉ lệ ước tính của từng bệnh.
Tỉ
lệ cao hơn có thể là do đối với những phụ nữ đã mắc một loại ung thư, kiểm
soát sàng lọc kĩ càng hơn. Tuy nhiên, biểu hiện của cả hai thụ thể estrogen
và progesterone cao hơn đáng kể trong các mô của bệnh nhân ung thư vú và ung
thư tuyến giáp so với những người chỉ có ung thư vú. Theo Tiến sĩ An và đồng
nghiệp mối liên quan giữa 2 loại ung thư có thể là do cơ chế bệnh sinh phân tử
đặc hiệu nào đó.
Về
mặt lâm sàng, kết quả nhấn mạnh khuyến cáo việc kiểm tra vú thường xuyên ở phụ
nữ có ung thư tuyến giáp. Tuy nhiên, vì không có tiên lượng phát triển ung
thư trong số các bệnh nhân ung thư vú so với những người chỉ mắc ung thư tuyến
giáp và không có bằng chứng cải thiện tiên lượng cho chẩn đoán sớm ung thư
tuyến giáp, “sàng lọc ung thư tuyến giáp ở bệnh nhân ung thư vú có thể không
được khuyến cáo, bất kể độ tuổi đối với bệnh nhân ung thư vú.”
Bác
sĩ Jennifer H Kuo, giám đốc của chương trình nghiên cứu sinh thiết tuyến giáp
và phẫu thuật nội tiết ở Đại học Columbia, New York, cho biết những kết quả
nói chung phù hợp với các nghiên cứu trước đó, bao gồm cả nghiên cứu của cô
trên hai loại ung thư. “Đây là một nghiên cứu hồi cứu đơn trung tâm đánh giá
mối liên hệ giữa ung thư vú và ung thư tuyến giáp … Kết quả thu được
góp phần chứng minh cho kết luận từ các nghiên cứu tương tự trước đó –
rằng có một mối liên hệ giữa hai bệnh; tỉ lệ mắc vượt quá mức dự đoán từ
các kiểm soát đơn thuần; ung thư thứ phát phát triển trung bình sau 5 năm; và
các loại ung thư có xu hướng bé hơn, không xâm lấn, khối u dương tính với thụ
thể estrogen / progesterone. Tuy nhiên, kết quả này vẫn chưa đưa ra được câu
trả lời về nguyên nhân của mối liên hệ giữa 2 loại ung thư.”
Về
việc tầm soát bệnh, Tiến sĩ Kuo cho biết, “Tôi tán thành việc này. Tuy nhiên,
có một vấn đề lớn trong việc tầm soát ung thư tuyến giáp đối với bệnh nhân
ung thư vú. Ung thư tuyến giáp thường bị chẩn đoán quá (overdiagnosis), và việc
điều trị có thể vì thế mà ít được quan tâm hơn, điều này đã được phản ánh
trong hướng dẫn điều trị mới được Hiệp hội tuyến giáp Mỹ phát hành vào năm
ngoái. Vì vậy cần tầm soát, nhưng hãy thận trọng
.”
Cô phát biểu trên Medscape Medical News rằng: “Các bằng chứng trong cộng đồng
cho thấy sự liên hệ giữa hai loại ung thư. Cần nỗ lực hơn nữa để xác định
nguyên nhân dẫn đến mối liên kết này.” So sánh các nhóm ung thư Mẫu nghiên cứu
bao gồm 4243 bệnh nhân nữ được chẩn đoán ban đầu với u nhú hoặc nang tuyến
giáp và 6833 bệnh nhân với chẩn đoán ung thư vú, đều đã được phẫu
thuật. Trong khoảng thời gian 40 năm nghiên cứu số (1970-2009), 181 bệnh nhân
mắc thêm một loại ung thư khác, 4,3% bệnh nhân ung thư tuyến giáp và 2,6% bệnh
nhân ung thư vú.
Tổng
cộng có 55 bệnh nhân ung thư tuyến giáp có ung thư vú thứ phát, 81 bệnh nhân
ung thư vú có ung thư tuyến giáp thứ phát, và 45 bệnh nhân mắc đồng thời cả 2
(khi có chẩn đoán cả 2 loại ung thư trong vòng 2 năm. Trong đó đa số bệnh
nhân ung thư tuyến giáp xác định tình cờ trong khi chẩn đoán ung thư vú).
Tỉ
lệ 1: 3 so với nhóm chứng gồm những người chỉ mắc một bệnh ung thư hoặc mắc
thêm bệnh ung thư khác trong khoảng thời gian tương tự, phù hợp với độ tuổi
khi chẩn đoán và thời gian phẫu thuật.
Trong
nhóm mắc ung thư tuyến giáp nguyên phát, bệnh nhân ung thư vú là ung thư
biểu mô tuyến vú tại chỗ (DCIS) (29%), có tỉ lệ cao hơn so với nhóm ung thư
vú nguyên phát (10%) hoặc nhóm mắc đồng thời cả 2 bệnh (10%) và có tỉ lệ thấp
hơn là ung thư biểu mô tuyến vú xâm lấn so với 2 nhóm còn lại (tương ứng 69%
vs 86,5% và 80%).
Biểu
hiện của hai thụ thể estrogen và progesterone cao hơn đáng kể ở các nhóm mắc
đồng thời 2 bệnh (82% biểu hiện thụ thể estrogen) và nhóm ung thư tuyến
giáp nguyên phát (89%) so với nhóm ung thư vú nguyên phát (68%), các nhà khoa
học đưa ra suy đoán về nguyên nhân cho sự phát triển cả 2 loại ung thư có thể
có liên quan đến tín hiệu thụ thể.
Ung thư vú thứ phát
sau ung thư tuyến giáp
Sau
khi mắc ung thư tuyến giáp trung bình khoảng 5,2 năm bệnh nhân phát triển ung
thư vú.
Ở
những bệnh nhân ung thư tuyến giáp, tỉ lệ mắc ung thư vú lớn hơn trong cộng đồng,
với tỉ lệ mắc chuẩn 2,45.
Vì
tỉ lệ tăng của bênh nhân ung thư vú sau khi mắc ung thư tuyến giáp có thể là
do việc phát hiện ngẫu nhiên bệnh hoặc do việc tăng cường kiểm tra sức khỏe
thường xuyên (đặc biệt là trong các trường hợp phát hiện trong vòng 5 năm),
Tiến sĩ An và đồng nghiệp loại trừ các trường hợp tình cờ phát hiện bằng chẩn
đoán hình ảnh trong khi theo dõi bệnh nhân ung thư tuyến giáp. Tỉ lệ mắc chuẩn
giảm tuy nhiên vẫn còn đáng kể 2,16.
So
sánh 55 bệnh nhân trong nhóm có chẩn đoán ung thư tuyến giáp nguyên phát với
165 bệnh nhân nhóm chứng thích hợp, độ tuổi trung bình khi chẩn đoán ung thư
vú, thời gian theo dõi trung bình sau khi chẩn đoán, và tiền sử gia đình của
bệnh nhân là tương tự giữa hai nhóm. Tuy nhiên, tỉ lệ DCIS cao hơn đáng
kể (29,1% so với 8,5%, p <0,05), và kích thước khối u nhỏ hơn (1,7 so với
2,5 cm, P <0,05).
Bệnh
nhân phát triển ung thư vú trong vòng 5 năm sau khi mắc ung thư tuyến giáp
cũng có kích thước khối u nhỏ hơn, tỉ lệ DCIS cao hơn, và tỉ lệ tái phát thấp
hơn so với những người phát triển ung thư vú sau hơn 5 năm. Biểu hiện của thụ
thể estrogen và progesterone không khác biệt giữa 2 nhóm trên nhưng cao hơn
đáng kể ở cả hai nhóm so với nhóm chứng (P <0,05).
Giữa
các bệnh nhân nhóm ung thư tuyến giáp nguyên phát và nhóm chứng, không
có sự khác biệt về tiền sử gia đình, loại mô học, kích thước khối u, hạch bạch
huyết và di căn xa, nhiều ổ, xâm lấn xung quanh, tái phát khối u và liệu
pháp phóng xạ iod, bất kể thời gian phát hiện ung thư vú.
Ung thư tuyến thứ
phát sau ung thư vú: Không có tiên lượng lâm sàng
Thời
gian trung bình từ ung thư vú đến khi phát triển ung thư tuyến giáp là 5,9
năm, và tỉ lệ mắc chuẩn là 2,18 so với tỉ lệ mắc ung thư tuyến giáp trong cộng
đồng. Sau khi loại trừ các trường hợp tình cờ phát hiện bằng chẩn đoán hình ảnh
khi theo dõi bệnh nhân ung thư vú, tỉ lệ mắc đã giảm nhưng vẫn còn đáng kể,
1,73.
Tỉ
lệ phát hiện ung thư tuyến giáp thứ phát là cao hơn đáng kể trong vòng 5 năm
đầu tiên sau khi chẩn đoán ung thư vú và sau đó giảm dần theo thời gian (P
<0,01).
Tương tự như các nhóm ung thư tuyến giáp
nguyên phát, tỉ lệ phát hiện ung thư tuyến giáp trong quá trình kiểm tra sức
khỏe và tầm soát bệnh tương đối cao trong vòng 5 năm sau khi chẩn đoán ung
thư vú.
So
với nhóm chứng, những người được chẩn đoán ung thư tuyến giáp trong vòng 3
năm mắc ung thư vú có khối u nhỏ hơn (1,5 so với 2,0 cm) nhưng không
khác nhau về độ tuổi trung bình khi chẩn đoán, loại ung thư (hơn 90% là ung
thư tuyến giáp dạng nhú cho cả hai nhóm), kích thước khối u, hạch bạch huyết,
di căn xa, nhiều ổ, xâm lấn xung quanh, và tỉ lệ tái phát (4,9% so với 6,2%),
cho thấy không có tiên lượng lâm sàng cho phát triển ung thư tuyến giáp, Tiến
sĩ An và các đồng nghiệp lưu ý.
Biểu
hiện của cả hai thụ thể estrogen và progesterone cao hơn đáng kể ở nhóm mắc
ung thư vú nguyên phát so với nhóm chứng (68% so với 55% đối với các thụ thể
estrogen), và những kết quả tương tự bất kể thời gian giữa hai chẩn đoán.
Tác
giả lưu ý rằng ngoài khả năng thụ thể nội tiết tố có thể đóng một vai trò
trong cơ chế bệnh sinh của cả 2 loại ung thư thì hiệu quả điều trị bệnh cũng
có thể đóng vai trò nào đó.
Các
tác giả tham gia nghiên cứu và tiến sĩ Kuo không có mối quan hệ về tài chính
nào.
|
Dịch bởi: Kiều Oanh
Trên trang: rx.lineup.vn


Đăng nhận xét