What
If Virtual Reality Can Make Us Better Citizens?
Điều
gì xảy ra nếu công nghệ thực tế ảo có thể giúp chúng ta trở thành những con
người tốt hơn?
Jessica Leigh Hester, a
journalist, a writer of Citilab newspaper specializes in commentating on the
impact of new technologies to modern life especially to society, health and
environment. CEP introduces this article as a part of the English topic:
"Major findings for the future world" on Timeline
Learning platform.
Nhà báo
Jessica Leigh Hester là một cây bút của tờ báo citilab.com chuyên bình luận về
tầm ảnh hưởng của các công nghệ mới tới cuộc sống hiện đại đặc biệt là tới các
vấn đề xã hội, sức khỏe và môi trường. Bài viết được CEP đăng lại như là một
phần trong chủ đề tiếng Anh: "Những nghiên cứu thay đổi thế giới"
trên hệ thống Timeline
Learning.
Researchers are studying how
the technology can help us build empathy and change our personal behavior.
Các nhà
nghiên cứu đang nghiên cứu rằng làm thế nào công nghệ thực tế ảo có thể giúp
chúng ta xây dựng sự đồng cảm và thay đổi hành vi cá nhân của mình.
Last
weekend, at a museum exhibition, I strapped on a virtual reality headset that
blotted out the world around me. I couldn’t hear shoes scuffing cobblestones
outside the window. All I could see was a long, wooden boat slicing through
rippling water, below houses propped up on stilts. My body had melted away—I
kept looking for my hands, and couldn’t find them. But I thought I could feel
the breeze rustling my hair, and water droplets polka-dotting my arms. When I
peeled off the mask, blinking into the afternoon light, the streets didn’t feel
any more or less real than the boat and the ocean.
Cuối
tuần qua, tại cuộc triển lãm bảo tàng, tôi đeo kính thực tế ảo, chiếc kính xóa
sạch thế giới xung quanh tôi. Tôi không thể nghe thấy tiếng giày bước lên những
viên đá bên ngoài cửa sổ. Tất cả những gì mà tôi có thể thấy là một phần tàu
bằng gỗ dài trôi qua dòng nước chảy róc rách, bên dưới những căn nhà tựa lên
sàn. Cơ thể của tôi đã tan biến, tôi cứ mò tìm bàn tay của tôi và không thể tìm
thấy. Nhưng tôi nghĩ tôi có thể cảm nhận được làn gió xào xạc tóc của tôi và
nước đang nhỏ giọt lên cánh tay tôi. Khi tôi mở mặt nạ ra, nhấp nháy ánh sáng
xế chiều, các đường phố mà tôi không thực sự cảm nhận rõ khi tôi còn mường
tượng đến con tàu đó và đại dương đó.
That’s
a hallmark of the technology—it’s capable of giving users simulated experiences
that generate real emotional reactions. Several researchers are now trying to
harness that power to nudge human behavior for the better.
Đó là
một dấu hiệu của công nghệ thực tế ảo- nó có khả năng đem lại cho người dùng
những trải nghiệm mô phỏng, tạo ra các phản ứng cảm xúc thực. Một số nhà nghiên
cứu đang cố gắng để khai thác sức mạnh đó để thay đổi hành vi con người cho tốt
hơn.
A new
study published in the Journal of Computer-Mediated
Communication suggests that immersive digital environments can stoke
users’ sense of connection with nature—the implication being that empathizing
with the natural world could potentially make humans better stewards of it.
Một
nghiên cứu mới được công bố trên Tạp chí Truyền Thông Bằng Máy tính cho rằng:
môi trường kỹ thuật số theo nhập vai có thể thổi bùng cảm giác kết nối với
thiên nhiên của người sử dụng và tạo ra sự đồng cảm với thế giới tự nhiên và
làm cho con người quản lý tốt hơn về nó.
This
new project, conducted by researchers from the University of Georgia, Stanford,
and the University of Connecticut, aimed to see whether VR could help users
empathize with animals’ experiences. In the first experiment, the collaborators
asked participants to model a cow, crawling on their hands and knees, stooping
to eat and drink water before being prodded into a vehicle to transport them to
the slaughterhouse. The second experiment recreated the sensation of coral
dying in an acidifying ocean. To create an immersive experience, participants
felt vibrations in the floor and heard cracking sounds as the coral’s branches
broke off. The researchers found that the VR participants empathized with the
scenarios more than a control group watching a similar experience on video.
Dự án
mới này được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu từ Đại học Georgia, Stanford và
Đại học Connecticut nhằm mục đích để xem liệu VR (công nghệ thực tế ảo) có thể
giúp người dùng thấu hiểu những trải nghiệm của động vật. Trong thí nghiệm đầu
tiên, các cộng tác viên yêu cầu người tham gia bắt chước một con bò, bò bằng
tay và đầu gối, khom lưng để ăn và uống nước trước khi bị đưa vào một chiếc xe
để vận chuyển chúng đến lò mổ. Thí nghiệm thứ hai là tái tạo lại cảm giác của
san hô đang chết trong một đại dương bị axit hóa. Mang lại một trải nghiệm sống
khác, người tham gia cảm nhận được sự rung động trên sàn nhà và nghe thấy âm
thanh nứt trong các nhánh của san hô vỡ ra. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra
rằng những người tham gia VR (công nghệ thực tế ảo) cảm thông với những cảnh
tượng đó hơn là một nhóm kiểm soát xem một trải nghiệm tương tự trên video.
“The
studies reported here take the investigation of perspective taking to a new
level by allowing participants to go beyond imagining the perspective of the
cow or coral,” the authors wrote. “Participants felt ownership of the
virtual animal's body and perceived a mental merging of the self and nature.”
"Các
nghiên cứu đã báo cáo kết quả có được ở đây dẫn việc nghiên cứu các quan điểm ở
một cấp độ mới bằng cách cho phép người tham gia tưởng tượng ra viễn cảnh tương
như như con bò hoặc san hô", các tác giả viết. "Những người tham gia
cảm thấy quyền sở hữu của cơ thể con vật ảo và cảm nhận tâm linh tương thông
của bản thân với thiên nhiên."
VR
seems to offer a way to help close the gap between our personal behavior and
its broader consequences. “One of the biggest problems with environmental
issues is that there’s a huge temporal gap, so it seems like whatever you do in
the present doesn’t really connect to the environmental problems in the
future,” Grace Ahn, a study co-author and an assistant professor at the
University of Georgia, told The Guardian.
VR
dường như cung cấp một cách để giúp thu hẹp khoảng cách giữa hành vi cá nhân và
làm rộng hơn những kết quả đạt được. Grace Ahn -một đồng tác giả và một trợ lý
giáo sư tại Đại học Georgia chia sẻ với tờ báo The Guardian: "Một trong
những vấn đề lớn nhất về môi trường là có một khoảng cách thời gian rất lớn; vì
vậy, có vẻ như bất cứ điều gì bạn làm trong hiện tại không thực sự kết nối với
các vấn đề môi trường trong tương lai,"
Objectively,
we know the calculus: Shedding obsolete electronics leaks toxic substances
into soil and water; tossing wrinkled or dimpled food clogs up
landfills and wastes all the resources that went into its production. Over
time, and in enough volume, individual behaviors add up and amplify.
Nói một
cách khách quan thì chúng tôi biết rằng: các sản phẩm điện tử lỗi thời đang rò
rỉ chất độc hại vào đất và nước; thực phẩm thừa thải vứt đầy các bãi rác và
tiêu tốn tất cả các nguồn lực vào sản xuất. Thời gian trôi với đủ các khối
lượng, các hành vi cá nhân và đã làm tăng thêm, khuếch đại vấn đề lớn hơn.
But
it’s easy to overlook that link—as the MIT Technology Review has
noted, those connections are abstract, and the effects are sometimes far away
or sunk underground. Even point-of-view PSAs—like one from the Ad Council
that follows a strawberry bouncing along from vine to garbage
dump—are easy to shrug off. That puckering fruit could be sprouting mold in
someone else’s fridge.
Nhưng
rất dễ dàng để xem xét mối liên kết nào đó-như trong một đánh giá công nghệ của
học viện MIT đã lưu ý rằng: "những kết nối đó có tính trừu tượng và các
hiệu ứng đôi khi quá xa hoặc bị chìm dưới lòng đất. Ngay cả các quan điểm của
PSA (thông báo dịch vụ công cộng)- cũng giống như thông báo từ Ad Council (Tổ
chức phi lợi nhuận) rằng hình dung quá trình theo một quả dâu tây đang mọc từ
dây leo vươn ra trong bãi rác- rất dễ bị bỏ qua. Trái cây khô héo đó cũng có
thể đang bị nấm mốc trong tủ lạnh của người nào đó khác.
"Đây là những gì bạn làm hôm nay và đây là những gì có thể xảy ra 100 năm theo bước đường này. "
There’s
a growing body of research on how virtual reality can be used to cultivate
empathy—and a number of organizations are putting it into practice. The United
Nations is rolling out VR initiatives intended to help viewers
empathize with Syrian refugees, or a family in Gaza, walls charred and stippled
by gunfire and bombs. Other projects from University of Southern California’s
Institute for Creative Technologies insert users in a realistic combat
simulation to help them better understand the experiences of loved ones who are
suffering from PTSD after serving in the military. The sum effect is “a deeper
sense of what their loved one has gone through,” USC’s Albert “Skip” Rizzo
told the radio show Here & Now. VR is also used in police
training, to simulate interactions that require split-second decision making.
Có một
nghiên cứu tổng thể phát triển theo hướng: làm thế nào để công nghệ thực tế ảo
có thể được sử dụng để nuôi dưỡng sự đồng cảm và nhiều tổ chức đang mang nó vào
thực tế. Liên Hợp Quốc sẽ tung ra sáng kiến áp dụng VR nhằm giúp người xem đồng
cảm với những người tị nạn Syria hoặc một gia đình ở Gaza, những bức tường cháy
đen do súng và bom. Các dự án khác tại đại học Southern California Institute
for Creative Technologies đưa người dùng vào một mô phỏng chiến đấu thực tế để
giúp họ hiểu rõ hơn về những chịu đựng của những người thân đang bị PTSD (Rối
loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý) sau khi phục vụ trong quân đội. Hiệu
quả tổng hợp là "một ý thức sâu sắc hơn về những gì người thân yêu của họ
đã trải qua," Albert USC "Bỏ" Rizzo nói với chương trình radio
Here & Now. VR cũng được sử dụng trong đào tạo cảnh sát để mô phỏng các
tương tác đòi hỏi phải đưa ra quyết định cực kì nhanh.
This
new research adds to earlier findings about VR as a catalyst for personal
accountability, able to convince people to modify behaviors even after they
resurface in the real world. In 2011, researchers at Stanford’s Virtual Human
Interaction Lab, led by professor Jeremy Bailenson, asked participants
to maneuver a vibrating, haptic “chainsaw” to
down a tree in a simulated forest. After wielding the tool, the VR group user
20 percent fewer napkins to mop up a spill than the participants who read a
passage describing the tree being cut.
Nghiên
cứu mới góp phần thêm vào những phát hiện trước đây về VR như một chất xúc tác
cho trách nhiệm cá nhân, có khả năng thuyết phục mọi người thay đổi hành vi
ngay cả sau khi họ trở lại trong thế giới thực. Trong năm 2011, các nhà nghiên
cứu tại Phòng thí nghiệm tương tác của con người ảo Stanford do giáo sư Jeremy
Bailenson đứng đầu, yêu cầu những người tham gia thực hiện một rung động, dùng
"cưa" để cưa một cây trong một khu rừng được mô phỏng. Sau khi sử
dụng qua mô phỏng đó, nhóm VR đã sử dụng giảm đi 20% số khăn ăn để lau sau khi
ăn hơn những người tham gia đọc một đoạn văn miêu tả cây bị chặt.
VR
stitches up that lag between action and consequence, Ahn told The
Guardian, illuminating “really solid causal relationships—this is what you do
today, and here’s what might happen 100 years down the road.”
Công
nghệ VR vá lành vết thương giữa hành động của con người và hậu quả để lại trong
thiên nhiên, Ahn nói với tờ báo The Guardian, chứng tỏ "các mối quan hệ
nhân quả thực sự này- những gì bạn làm hôm nay và đây là những gì có thể xảy ra
100 năm trên bước đường này."
In that
sense, virtual reality can make the link between users and the larger world not
only perceptible, but inescapable. That’s partly because VR straddles and blurs
the lines between passive and active entertainment, and between fantasy and
observed experience. When our avatars are the ones sawing down trees, an issue
like conservation is no longer an invisible things happening in a far-off
world, too distant to goad us into tweaking our behaviors.
Ý nghĩa
đó là thực tế ảo có thể tạo liên kết giữa người sử dụng và thế giới lớn hơn
không chỉ cảm nhận được mà còn không thể trốn tránh được. Đó là một phần do
công nghệ VR làm nhịp cầu xóa đi ranh giới giữa giải trí thụ động và chủ động;
giữa tưởng tượng và trải nghiệm được -quan sát được. Khi sự hóa thân chúng ta
vào những người cưa cây, một vấn đề như sự bảo tồn không còn là một thứ vô hình
xảy ra trong một thế giới xa xôi nữa, không còn quá xa để thôi thúc chúng ta
điều chỉnh hành vi của mình nữa.
“We
can’t get everyone to read scientific papers about climate change, so this
shortcuts all of that,” Bailenson told Popular Science.
“We want people to walk out of there feeling empathy and wanting to act.”
Bailenson
nói với tờ tạp chí chuyên ngành Popular Science: "Chúng ta không thể khiến
cho tất cả mọi người đọc các bài báo khoa học về biến đổi khí hậu, vì vậy đây
là cách nhanh nhất cho tất cả điều đó. Chúng ta muốn mọi người đi ra khỏi ranh
giới đó và cảm nhận được sự đồng cảm,muốn hành động."
By: Jessica
Leigh Hester (Citylab.com)



Đăng nhận xét