Why is Vietnam so happy?
Tại sao Việt nam lại
hạnh phúc?
In 1968, the Beatles came out with a song called “Money Can’t
Buy Me Love”. The idea that money, or material goods, doesn’t equal happiness
has since become somewhat clichéd. But just because it’s a cliché, doesn’t make
it less true.
Vào năm 1968, ban nhạc
the Beatles đã sáng tác bài hát có tên gọi "Tiền không thể mua được
tình yêu". Suy nghĩ rằng tiền hoặc vật chất không thể sánh ngang
bằng hạnh phúc đã trở nên hơi sáo rỗng. Nhưng không phải vì nó là một lời
nghe sáo rỗng, điều đó không làm cho nó giảm đi thực tế đúng đắn của
nó.
In survey after survey, in country after country, when people
are asked about the pinnacle of their aspirations – or, simply put, ‘what do
you want’ – the answer is invariably ‘to be happy’. How happiness is defined is
a different story. It varies among cultures, religions and nations.
Trong một cuộc khảo
sát, trong nước và ngoài nước, khi con người được hỏi về nguyện vọng lớn nhất
của họ- hay đơn giản là "bạn muốn làm gì?" - câu trả lời luôn
là "trở nên hạnh phúc". Làm thế nào để hạnh phúc được định
nghĩa là một câu chuyện khác. Câu trả lời sẽ khác khác nhau giữa các nền
văn hóa, tôn giáo và quốc gia.
A UK-based think tank called the New Economies Foundation has a
definition that it has been promoting through something it calls “The Happy
Planet Index” (HPI). Taking some 140 countries for which data is available, the
index seeks to measure how well nations are doing at achieving long, happy,
sustainable lives.
Một cố vấn người Anh
từ tổ chức New Economies Foundation có một định nghĩa và được quảng bá thông
điệp thông qua chỉ số được gọi là "chỉ số hạnh phúc toàn cầu"
(HPI). Có khoảng 140 đất nước đã được khảo sát và chỉ số này giúp tìm kiếm
xem quốc gia nào đạt được hạnh phúc và cuộc sống bền vững lâu dài.
You may or may not be surprised that wealthy Western countries,
often regarded as the epitome of success, do not rank highly on the recently
released 2016 Happy Planet Index. The United States, for example, is ranked in
108th place. The United Kingdom – 38th. France – 44th. Germany – 49th.
Bạn có thể hoặc không
ngạc nhiên rằng các nước phương Tây giàu có, thường được coi là mẫu mực của sự
thành công, không được xếp hạng cao gần đây về chỉ số hạnh phúc toàn
cầu vào năm 2016. Ví dụ, Hoa Kỳ được xếp hạng ở vị trí thứ 108. Vương quốc
Anh xếp thứ 38. Pháp đứng thứ 44. Đức đứng thứ 49.
So who’s at the top? The Central American state of Costa Rica,
followed by Mexico, Columbia and Vanuatu. And in fifth place – and first in
Asia – Viet Nam.
Vậy thì ai đứng đầu?
Đất nước Trung Mỹ như Costa Rica, đứng kế tiếp là Mexico, Colombia và
Vanuatu. Và ở vị trí thứ năm - và lần đầu tiên ở châu Á - Việt Nam.
Viet Nam? A country ranked by the World Bank as “lower-middle
income” – is far happier than the largest economy in the world? What’s wrong
with this picture?
Việt Nam ư? Một đất
nước được đánh giá bởi ngân hàng thế giới là một đất nước có thu nhập dưới
trung bình lại hạnh phúc hơn các nền kinh tế lớn nhất thế giới? Chuyện gì
với sự sắp xếp này vậy?
What’s wrong is that the world’s dominant measure of progress
has for decades been economic. Economic indicators – Gross Domestic Product
(GDP), economic growth – are modern-day deities. Attempts to challenge this
concept – whether by Bhutan’s Gross National Happiness or the more conventional
UN world development measurements – are generally dismissed as naïve or “well
meaning, but…”
Điều gì đã sai khi
những nền kinh tế thống trị thế giới đã đạt được trong nhiều thập kỷ.
Chỉ tiêu kinh tế - tổng sản phẩm trong nước (GPD), sự tăng trưởng kinh tế đương
thời. Mục đích cho sự thách thức tạo dựng khái niệm hạnh phúc này - thường
bị coi là ngây thơ hay "cũng có ý nghĩa đại khái, nhưng..."
So what’s Viet Nam’s secret? Like the other top-ranked states on
the list, it is considered to be achieving relatively high life expectancy and
wellbeing for its 91 million residents - with a much smaller ecological
footprint, defined as the average burden that each resident places on the
environment.
Vậy bí ẩn về đất
nước Việt Nam là gì? Giống với bảng xếp hạng đứng đầu của các đất
nước trong danh sách, tiêu chí được cân nhắc để đạt đến khía
cạnh tuổi thọ và an sinh xã hội cho 91 triệu người dân ở đó- với
mức độ ô nhiễm còn thấp (dấu vết Carbon được định nghĩa như gánh nặng trung
bình của mỗi người dẫn lên môi trường).
“Viet Nam has a strikingly low ecological footprint … per head,
almost 24 times smaller than nearby Hong Kong,” write the authors of the
report. In fact, “Viet Nam is one of just three countries in the top ten Happy
Planet Index rankings with an ecological footprint that is small enough to be
considered environmentally sustainable.”
Theo bài viết của tác
giả trong bản báo cáo: "Việt Nam có dấu vết ô nhiễm thấp tính
trên mức độ ô nhiễm và bình quân đầu người, và nhỏ hơn gấp 24 lần so với Hồng
Kông,". Thực tế, " Việt Nam là một trong 3 quốc gia đứng đầu ở
chỉ số hành tinh hạnh phúc với mức ô nhiễm ở mức giới hạn cho sự cân bằng môi
trường bền vững."
So is it just about the happiness of the planet?
Vậy có phải chỉ số
hạnh phúc là sử khảo sát trên toàn cầu?
Not at all. Wellbeing is defined in the report as how satisfied
people feel with life overall, on a scale from zero to 10, based on data
collected as part of the Gallup World Poll.
Không hẳn là vậy. Hạnh
phúc đã được định nghĩa trong báo cáo như cách mọi người hài lòng với cuộc sống
nói chung, đo lường trên 1 chiếc cân từ 0 đến 10, dựa trên dữ liệu thu thập
được là một phần của tổ chức điều tra thế giới Gallup World Poll.
In terms of life expectancy, Viet Nam is doing pretty well, too.
In 46th place (out of 140), its citizens are expected to live to an age of
75.5, on average. Life expectancy in the US, with all its state-of-the-art
medicine and research, is not much higher – only 78.8.
Về điều kiện
sống, Việt nam đang làm khá tốt. Ở vị trí thứ 46 (trong khoảng 140), công dân
của Việt Nam đã được kỳ vọng sống thọ ở độ tuổi trung bình khoảng 75,5. Tuổi
thọ trung bình ở Mỹ, với tất cả nền y học và nghiên cứu hiện đại nhất, nhưng
không cao lắm- chỉ 78,8.
And by the way, it’s possible to have both – environmental
sustainability and long life. Spain, for example, achieves a life expectancy of
82, with half the ecological footprint of the United States’.
Bằng cách này, một đất
nước có thể có cả hai: Môi trường bền vững và tuổi thọ cao. Như nước Tây
Ban Nha, con người ở đây đạt đươc tuổi thọ là 82, với một nửa mức độ ô
nhiễm so với nước Mỹ.
In other words, GDP growth on its own does not mean a better
life for everyone, particularly in countries that are already wealthy. It does
not reflect income inequality, and it does not measure what really matters to
many people - intangibles like love, family and social ties, good health,
leisure pursuits, work-family balance and more.
Nói cách khác, sự tăng
trưởng GDP riêng của nó không có nghĩa có một cuộc sống tốt hơn cho mọi người,
đặc biệt trong là trong những quốc gia giàu có. Nó không phản ánh sự bất bình
đẳng thu nhập, và nó không tính toán tới điều thực sự quan trọng đối với
con người - những thứ không thể sờ được như tình yêu, gia đình và quan hệ xã
hội, sức khỏe tốt, theo đuổi sự thư giản, cân bằng trong công việc gia
đình và nhiều hơn thế.
Costa Ricans have higher wellbeing than the residents of many
rich nations, and live longer than people in the US. This is achieved with a
per capita ecological footprint that’s just one-third the size of the US’.
Costa Rica is a world leader in environmental protection, with 99 per cent of
its electricity generated by renewable sources.
Những người Costa Rica
có phúc lợi cao hơn những người dân ở các quốc gia giàu có khác, và họ sống lâu
hơn so với người Mỹ. Điều này đạt được với một mức độ ô nhiễm bình quân đầu
người đó chỉ bẳng 1/3 so với Mỹ. Costa Rica là một nhà lãnh đạo thế giới
trong việc bảo vệ môi trường, với 99% điện năng được tạo ra bởi các nguồn năng
lượng tái tạo.
Interestingly, Viet Nam’s inequality of outcomes rating, which
measures inequality in wellbeing and life expectancy scores within the country,
is even better than that of Costa Rica. The explanation provided by the authors
is that school enrolment is among the highest in the world at 98 per cent, and
the number of colleges and universities continues to grow rapidly.
Thật thú vị, sự khập
khiễng liên quan tới kết quả xếp hạng của Việt Nam-nơi được đo lường
điểm số an sinh và tuổi thọ trong nước, thậm chí là tốt hơn so với Costa Rica.
Lời giải thích được cung cấp bởi các tác giả là tỷ lệ nhập học là một trong
những nước cao nhất với 98%, và số lượng các trường đại học và cao đẳng phát
triển nhanh chóng.
“The country has been hailed as a global poster child for
poverty reduction - the number of people living in poverty fell from 58 per
cent in 1993 to 10.7 per cent in 2010,” the report adds.
Báo cáo cho biết thêm:
"Quốc gia này đã được ca ngợi là một biểu tượng toàn cầu để giảm
nghèo - số lượng người đang sống trong nghèo đói giảm từ 58% vào năm 1993 đến
10.7% vào năm 2010,".
Countries like Viet Nam prove that high life expectancy and
wellbeing are possible with a far lighter tread on the planet. They are far
more efficient at providing their citizens with long, happy lives in terms of
the resources they consume.
Những đất nước giống
Việt Nam chứng minh rằng tuổi thọ cao và sức khỏe tốt có thể với một bước
tiến xa trên hành tinh này. Hiệu quả cuộc sống cao hơn nhiều với
mức cung cấp cho công dân của họ so với ước mơ về cuộc sống hạnh
phúc và về tài nguyên mà họ tiêu thụ.
But, a word of warning. The report notes that as Viet Nam’s
economy has grown, so has its impact on the environment – i e its ecological
footprint. “Viet Nam faces important choices about its future. An
industry-led development path similar to its richer neighbour, Malaysia, would
likely see a massive increase in its per capita ecological footprint – bad news
for sustainability in the region,” the authors caution.
Các tác giả cảnh báo:
"Thế nhưng, khi trái đất vẫn đang nóng dần lên, báo cáo lưu ý rằng vì kinh
tế Việt Nam đang vào giai đoạn phát triển, vì vậy sẽ có những tác động đối với
môi trường- đó là những dấu vết của sự ô nhiễm. Việt Nam sẽ đối mặt với sự
lựa chọn quan trọng về tương lai của chính Việt Nam. Một con đường phát triển
công nghiệp cũng sẽ tương tự với 'người hàng xóm' giàu có hơn
như Malaysia, có khả năng sẽ chứng kiến một sự gia tăng lớn giới hạn
ô nhiễm môi trường- rõ ràng là một tin xấu cho sự bền vững trong khu vực,"
The cautionary remark appears more than apt given several
environmental disasters this year, the most serious of which was the discharge
of toxic wastewater by Taiwan’s Formosa Plastics Corp from its Vietnamese steel
plant that led to mass fish deaths across four coastal provinces, sparking
unprecedented public protests.
Các nhận xét cảnh báo
xuất hiện nhiều hơn về thảm họa môi trường trong năm nay, nghiêm trọng
nhất là nhà máy xả nước thải độc hại của Formosa Plastics Corp của Đài
Loan từ chính nhà máy thép có nhà máy đặt tại Việt Nam đã dẫn đến tình trạng
các chết hàng loạt tại 4 tỉnh ven biển, đã gây ra những cuộc biểu tình chưa
từng có.
Prime Minister Nguyen Xuan Phuc told the Vietnamese parliament
this week that the incident “must serve as a serious lesson about getting and
managing foreign investment projects. It must not recur.”
Thủ tướng Nguyễn Xuân
Phúc đã nói tại quốc hội Việt Nam trong tuần này rằng biến cố "phải được
xem như một bài học nghiêm túc về việc phát hiện và quản lý dự án đầu tư
nước ngoài. Điều này không được phép tái diễn."
And in plain words – he believes Viet Nam should strive to keep
its people happy, and its host planet happy, as well.
Và rõ ràng - ông ấy
tin rằng Việt Nam nên phấn đấu để giữ cho người dân hạnh phúc và tương tự
cho một hành tinh hạnh phúc.
Source: VNS


Đăng nhận xét