Education in an uncertain world
Giáo dục trong một thế giới bất định
Until the Industrial Revolution, neither formal education nor
advances in technology made much of a difference for the vast majority of
people. But as technological progress accelerated, education failed to keep
pace, leaving vast numbers of people struggling to adapt to a rapidly changing
world and contributing to widespread suffering.
Cho đến khi nổ ra Cách mạng Công nghiệp thì trước đó cả hai hình
thức giáo dục cơ bản và nâng cao kĩ thuật đều không tạo ra nhiều khác biệt cho
phần lớn mọi người. Nhưng vì sự phát triển kĩ thuật được thúc giục, giáo dục
lại càng thất bại trong việc giữ gìn nhịp độ, khiến rất nhiều người phải vật
lộn để thích nghi với một thế giới thay đổi nhanh chóng.
It took a century for public policy to respond with an effort to
provide universal access to schooling. In recent decades, remarkable strides
have been made toward realizing that ambition worldwide. But in an era when technological
innovation is once again outpacing education, the effort to provide everybody
with an opportunity to learn must not only be redoubled; it must also be
retooled for an increasingly unstable and volatile world.
Mất cả thế kỉ để chính sách công đáp lại những nỗ lực vào việc
cung cấp toàn bộ sự tiếp cận việc dạy học. Trong những thập kỉ gần đây, những
bước đi rõ rệt đã giúp chúng ta nhận ra tham vọng đó trên toàn thế giới. Tuy
nhiên, trong một kỉ nguyên khi mà sự cải tiến kĩ thuật một lần nữa đi nhanh hơn
giáo dục thì nỗ lực cung cấp cho mọi người cơ hội để học không chỉ nên được
nhân đôi lên, mà còn phải trang bị cho những sự bất ổn đang gia tăng trong một
thế giới liên tục thay đổi.
Access to education has been significantly broadened. The world
is no longer rigidly divided between rich, well-educated countries and poor,
badly educated ones. The quality of schooling remains a powerful predictor of
national income over the long term, and many low-income countries have begun
leveraging education in the service of economic development. As a result, among
80 countries with comparable data on the quality of learning, GDP per
capitanow explains only 6% of the variation in performance.
Cánh cửa cho việc giáo dục đang được mở rộng ra một cách đáng
kể. Thế giới không còn phân chia một cách cứng nhắc giữa những quốc gia giàu
có, tiến bộ với những nước nghèo, lạc hậu. Chất lượng giáo dục vẫn còn duy trì
những dự đoán mạnh mẽ về thu nhập trong một thời gian dài, mà rất nhiều quốc
gia có nguồn thu nhập thấp đã bắt đầu đẩy mạnh giáo dục trong sự phát triển
dịch vụ kinh tế. Kết quả là giữa 80 quốc gia với những dữ liệu có thể so sánh
được về chất lượng học tập, GDP bình quân hiện tại giải thích chỉ 6% sự thay
đổi.
Much work remains to be done – even in high-income countries.
Many oil-producing countries, in particular, have succeeded in converting their
natural wealth into physical capital and consumption; but they have failed to
build the human capital that can sustain their economies in the future. If the
high-income non-OECD countries equipped their students at least with very basic
skills, they would, as a group, benefit from added economic value equivalent
to almost five times their current GDP. Even with their abundant natural
resources, far greater wealth lies untapped in their populations’ undeveloped
skills.
Còn rất nhiều việc để hoàn thành – kể cả với những nước có thu
nhập cao. Đặc biệt, nhiều nước sản xuất dầu đã thành công trong việc chuyển đổi
của cải tự nhiên thành tư bản vật chất và tiêu dùng. Tuy nhiên, họ đã thất bại
trong việc xây dựng đầu não con người có thể chống đỡ cho nền kinh tế trong
tương lai. Nếu các quốc gia thu nhập cao không nằm trong OECD (Tổ chức Hợp tác
Kinh tế và Phát triển) trang bị cho những sinh viên của họ ít nhất là những kĩ
năng cơ bản, thì với tư cách là một tập thể, họ sẽ được lợi từ giá trị kinh tế
thêm vào tương đương gần 5 lần so với GDP hiện tại. Kể cả với nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú, sự thịnh vượng trong tương lai sẽ không được khai thác
với những kĩ năng kém phát triển của dân số.
Education has a much wider impact than simply improving earnings
or employment opportunities, which is why it is a component of the human
development index. In all countries with comparable data, adults with
lower literacy skills are far more likely to report poor health, have less
trust in their fellow citizens, and perceive themselves as objects – rather
than actors – in the political process. For countries that fail to equip their
residents with the proper skills, technological progress is unlikely to
translate into economic growth, and large swaths of the population risk
languishing on the margins of society.
Giáo dục có ảnh hưởng mạnh hơn là chỉ nâng cao mức thu nhập hoặc
các cơ hội việc làm, chính vì vậy nó là một phần trong Chỉ số Phát triển Con
người (HDI – Human Development Index). Trong tất cả các nước có thể so sánh
được với nhau, người trưởng thành có trình độ học vấn thấp có nhiều khả năng là
sức khỏe yếu, ít tin tưởng các công dân khác, và coi bản thân họ như con tốt
trong sự phát triển của chính trị. Đối với các nước thất bại trong việc cung
cấp cho công dân của họ các kỹ năng cần thiết, quy trình phát triển công nghệ
khó có thể chuyển đổi thành sự phát triển về mặt kinh tế, và một lượng lớn dân
số có nguy cơ không hoạt động theo nề nếp của xã hội.
And yet, it is important to note that formal education alone is
not enough to ensure greater opportunity and prosperity. In many economies, too
many unemployed graduates coexist with a large number of employers who cannot
find workers with the skills they need. If individuals and countries are to
continue to reap the benefits of education, policymakers must focus on the
skills required to prosper in a rapidly changing world.
Và hơn hết, điều rất quan trọng nên thêm vào là giáo dục cơ bản
không thôi chưa đủ để bảo đảm đầy đủ cơ hội và sự phồn thịnh lớn mạnh. Trong
nhiều nền kinh tế, có quá nhiều nhân công đã qua giáo dục đang thất nghiệp cùng
với số lượng lớn những người sử dụng lao động không tìm được nhân công có kỹ
năng mà họ cần. Nếu các cá nhân và các nước tiếp tục gặt hái những thành quả
của nền giáo dục, các nhà hoạch định chính sách bắt buộc phải tập trung vào các
kỹ năng thiết yếu để thành công trong một thế giới luôn luôn thay đổi.
In the past, education was about imparting knowledge. Today, it
is about providing students with the tools to navigate an increasingly
uncertain, volatile world. Unfortunately, the skills that are easiest to teach
and test are also the easiest to automate or outsource. State-of-the-art
knowledge remains important. But the global economy no longer rewards workers
for what they know (Google knows everything); it rewards them for what they can
do with what they know.
Trong quá khứ, nền giáo dục cơ bản là truyền đạt kiến thức. Ngày
nay, giáo dục là cung cấp cho học sinh các công cụ để họ điều khiển thế giới
đang ngày một bấp bênh, mờ mịt. Đáng tiếc thay, những kỹ năng dễ dạy và kiểm
nhất lại cũng dễ trở thành tự động hóa hoặc lấy từ nguồn bên ngoài. Những kho
tàng kiến thức vẫn giữ nguyên vị trí quan trọng. Nhưng nền kinh tế toàn cầu
không còn thưởng cho nhân công vì những gì họ biết (Google giờ đã biết tất cả
mọi thứ rồi), họ thưởng cho nhân công vì những gì họ làm được với kiến thức của
họ.
Education needs to focus on improving how students think, work,
and embrace technology, and on providing the social and emotional skills needed
to collaborate with others. In the past, educators imparted knowledge by
breaking problems into manageable pieces and then teaching techniques to solve
them. Today, value is often created by synthesizing disparate bits of
information. And for that, workers need more than technical knowledge; they
must be imbued with curiosity, open-mindedness, and the ability to make
connections between seemingly unrelated ideas.
Nền giáo dục cần phải tập trung vào việc cải thiện cách suy
nghĩ, cách làm việc, và sử dụng công nghệ của học sinh, và việc cung cấp kỹ
năng xã hội và tâm lý cần thiết để hợp tác với người khác. Trong quá khứ, giáo
viên truyền đạt kiến thức bằng cách chia nhỏ các vấn đề ra thành từng mảng và
dạy kỹ thuật để xử lý chúng. Ngày nay, giá trị của giáo dục thường được tạo ra
bằng cách tổng hợp nhiều mảng thông tin lại với nhau. Và vì thế, nhân công cần
nhiều hơn là lý thuyết suông, họ cần phải có sự tò mò, suy nghĩ thoáng, và khả
năng tạo sự kết nối giữa những ý tưởng gần như không liên quan gì đến nhau.
In the traditional education system, students typically learned
on their own and were judged individually. But as technology progresses and
once separate economies become interdependent, working with others is becoming
increasingly important. Today, innovation rarely results from individuals
working in isolation; far more often than not, it is the product of sharing and
collaboration. Schools need to incorporate this new reality into their
curriculums, preparing their students to work across cultures and equipping
them for a world shaped by issues that transcend national boundaries.
Trong bộ máy giáo dục truyền thống, học sinh thường phải tự học
và được đánh giá riêng. Nhưng khi công nghệ phát triển và các nền kinh tế trở
nên liên kết với nhau, làm việc với những cá nhân khác trở nên rất quan trọng.
Ngày nay, sự đổi mới hiếm khi xuất phát từ các cá nhân làm việc trong môi
trường tách biệt; thường nhiều hơn là không, chúng là thành quả của sự chia sẻ
và hợp tác. Các trường học cần kết hợp thực tế mới này vào chương trình giảng
dạy của họ, chuẩn bị cho học sinh của họ cách làm việc với nhiều nền văn hóa,
trang bị cho họ một thế giới với những vấn đề vượt ranh giới quốc gia.
Part of the policy answer is promoting skills-oriented learning
throughout workers’ lives, rather than focusing on education that ends when
work begins. Developing skills is easier when learning is integrated into the
workplace. Doing so also allows young people to develop hard skills on modern
equipment and learn soft skills – including teamwork, communication, and
negotiation – through real-world experience. Another important policy approach
is active intervention in the labor market, including counseling, job-search
assistance, hiring subsidies for low-skill youth, and income support for young
people actively searching for work.
Một phần của chính sách đáp ứng việc đẩy mạnh kiến thức về định
hướng kĩ năng trong suốt cuộc đời của người lao động hơn là việc tập trung vào
giáo dục khi mà nó sẽ kết thúc khi họ đi làm. Phát triển kĩ năng sẽ dễ hơn khi
việc học tập được kết hợp với môi trường làm việc. Làm như vậy cũng cho phép
những người trẻ phát triển những kĩ năng cứng về thiết bị hiện đại và học kĩ
năng mềm – bao gồm kĩ năng làm việc nhóm, giao tiếp và đàm phán – qua trải
nghiệm làm việc thực sự. Một chính sách quan trọng khác là sự can thiệp linh
hoạt vào thị trường lao động, bao gồm việc tư vấn, giúp đỡ tìm việc, trợ cấp
cho tầng lớp thanh niên kĩ năng thấp, và hỗ trợ thu nhập cho những người trẻ
đang tích cực tìm việc.
Retooling education for the modern economy will require the
involvement of every sector of society. Governments will have to design smarter
financial incentives. Education systems will have to pivot to foster
entrepreneurship and offer better vocational training. Employers will have to
invest in their workforces. And labor unions can contribute to ensuring that
training translates into better jobs.
Việc trang bị lại giáo dục cho kinh tế hiện đại sẽ đòi hỏi sự
tham gia của mọi nơi trong xã hội. Chính phủ sẽ phải thiết kế những động lực
tài chính thông minh hơn. Hệ thống giáo dục sẽ phải xoay trục để khuyến khích
doanh nhân và đề nghị đào tạo nghề nghiệp tốt hơn. Những người chủ sẽ phải đầu
tư vào lực lượng lao động của họ. Và liên minh lao động có thể góp phần đảm bảo
rằng việc đào tạo sẽ giúp họ có công việc tốt hơn.
Education is increasingly a collective enterprise, and this must
be reflected in the skills it provides to graduates. Ultimately, however, the
future of education will depend on individuals and their willingness to take
advantage of learning opportunities and invest in their own futures.
Giáo dục đang là một tập hợp doanh nghiệp trở nên lớn mạnh, và
điều này phải được phản ánh trong những kĩ năng mà nó cung cấp cho những người
tốt nghiệp. Cuối cùng, dù thế nào thì tương lai của giáo dục sẽ phụ thuộc vào
những cá nhân cùng với việc sẵn sàng học hỏi và sự đầu tư vào tương lai của
riêng họ.
Source: Andreas Scheicher (project-syndicate.org)



Đăng nhận xét