HCM City focuses on bio-tech
Thành phố Hồ Chí
Minh tập trung vào công nghệ sinh học
New applications of stem cell and gene technologies as well as
nanotechnology will be the focus of HCM City’s bio-tech programme to 2020, the
deputy head of the city’s Department of Sciences and Technology has said.
Những ứng dụng mới của
tế bào gốc và công nghệ gen, công nghệ nano sẽ là trọng tâm của chương trình
công nghệ sinh học TP. HCM đến năm 2020, Phó Cục trưởng Cục Khoa học và Công
nghệ của thành phố nói.
Speaking at a two-day national conference on bio-tech
application that ended on Tuesday, Dr Nguyen Ky Phung said more research
projects would be undertaken during this period, including studies about new
seed varieties and the storage and processing of agricultural products.
Phát biểu tại một hội
nghị quốc gia kéo dài hai ngày về ứng dụng công nghệ sinh học, Tiến sĩ Nguyễn
Kỳ Phùng cho biết có thêm các dự án nghiên cứu sẽ được thực hiện trong giai
đoạn này, bao gồm các nghiên cứu về giống cây trồng mới, bảo quản và chế biến
các sản phẩm nông nghiệp.
In the health sector, technologies for grafts, organ transplants
and cell therapy will be given priority for research and application.
Trong lĩnh vực y tế,
công nghệ cấy ghép nội tạng và liệu pháp tế bào gốc sẽ được ưu tiên trong việc
nghiên cứu và ứng dụng.
Research and production of monoclonal antibodies, new-generation
vaccines, and new kits for diagnosis will also be part of the bio-tech
programme as well.
Nghiên cứu và sản xuất
kháng thể đơn dòng, vắc xin thế hệ mới và bộ dụng cụ mới cho việc chẩn đoán
cũng sẽ là một phần của chương trình công nghệ sinh học.
To encourage further research, the department will provide funds
for innovative ideas, and the private sector will be asked to work with public
agencies on research projects.
Để khuyến khích cho
các nghiên cứu tiếp theo, Bộ sẽ cung cấp vốn cho những ý tưởng sáng tạo và khu
vực tư nhân sẽ được yêu cầu làm việc với các cơ quan công lập trong các dự án
nghiên cứu.
Between 2011 and 2015, the city’s expenditures for scientific
and technological programmes accounted for 2.53 per cent of the total budget.
These programmes had helped raise labour productivity to 5.6 per cent, Phung
said.
Giữa năm 2011 và năm
2015, chi tiêu của thành phố cho các chương trình khoa học và công nghệ chiếm
2,53 phần trăm trong tổng ngân sách. Các chương trình này đã giúp nâng cao năng
suất lao động lên 5,6 phần trăm, ông Phụng nói.
Scientific and technological services are among the top nine service
industries in the city, including finance-banking, logistics and real estate.
The innovation growth rate for technologies in general was 15 per cent during
this period.
Các Dịch vụ khoa học
và công nghệ là một trong chín ngành công nghiệp dịch vụ hàng đầu của thành
phố, trong đó bao gồm tài chính-ngân hàng, xuất nhập khẩu và bất động sản. Tốc
độ tăng trưởng đổi mới cho công nghệ nói chung là 15 phần trăm trong giai đoạn
này.
The application rate of scientific research results from 2011 to
2015 was 35.5 per cent, contributing to development of the city’s six
“breakthrough programmes” and economic growth.
Tỷ lệ ứng dụng kết quả
nghiên cứu khoa học trong giai đoạn 2011-2015 là 35,5 phần trăm, góp phần vào
sự phát triển của sáu "chương trình đột phá" của thành phố và tăng
trưởng kinh tế.
Bui Chi Buu of the Institute of Agricultural Sciences for
Southern Vietnam said that advanced bio-tech applications had been used to
increase crop productivity and quality, improving plant tolerance to flooding,
drought, heat and salinity.
Ông Bùi Chí Bửu của
Viện Khoa học Nông nghiệp miền Việt Nam nói rằng các ứng dụng công nghệ sinh
học tiên tiến đã được sử dụng để tăng năng suất và chất lượng cây trồng, nâng
cao khả năng chịu lũ lụt, hạn hán, nhiệt độ và độ mặn.
Scientists in the region are also making headway in research
related to nucleotide changes and phenotypic changes, which has been a
challenge in molecular genetics and the breeding of rice, cassava, soybean and
maize, according to Buu.
Theo ông Bửu các nhà
khoa học trong khu vực cũng đang tạo ra những tiến bộ trong việc nghiên cứu
liên quan đến thay đổi nucleotide và thay đổi kiểu hình, đó là một thách thức
về di truyền học phân tử và các giống cây như lúa, sắn, đậu tương, ngô.
These efforts have revealed new opportunities to accelerate both
the genetic dissection of complex traits and the integration of genomics with
crop breeding.
Những nỗ lực này đã
mang đến những cơ hội mới để tăng tốc cả sự bóc tách di truyền của tính trạng
phức tạp và sự tích hợp của gen với giống cây trồng.
Vietnamese scientists are capable of mastering advanced
technologies used in gene transformation if they receive proper funding, Buu
said.
Ông Bửu nói rằng các
nhà khoa học Việt Nam có khả năng làm chủ công nghệ tiên tiến được sử dụng trong
chuyển đổi gen nếu họ nhận được mức tài trợ thích hợp.
Source: VIETNAMNET


Đăng nhận xét