HELIUM’S FUTURE UP IN THE AIR
Tương lai không rõ
ràng của khí Hêli
In recent years we have all been exposed to dire media reports
concerning the impending demise of global coal and oil reserves, but the
depletion of another key nonrenewable resource continues without receiving much
press at all.
Trong những năm gần
đây, chúng ta đã được tiếp xúc với tất cả phương tiện truyền thông liên quan
đến sự việc trữ lượng than đá và dầu mỏ toàn cầu đang có sự biến động giảm dần,
nhưng sự suy giảm của một nguồn tài nguyên không thể tái tạo quan trọng khác
vẫn tiếp tục mà không nhận được nhiều sự quan tâm của báo chí.
Helium – an inert, odourless, monatomic element known to lay
people as the substance that makes balloons float and voices squeak when
inhaled – could be gone from this planet within a generation.
Khí Heli là một khí
trơ, không mùi, đơn nguyên tử được biết đến như là chất làm cho bong bóng lơ
lửng và giọng nói rít lên khi hít vào và nó có thể biến mất khỏi hành tinh này
trong vòng một đời người.
Helium itself is not rare; there is actually a plentiful supply
of it in the cosmos. In fact, 24 per cent of our galaxy’s elemental mass
consists of helium, which makes it the second most abundant element in our
universe. Because of its lightness, however, most helium vanished from our own
planet many years ago.
Khí Heli bản thân nó
không phải là hiếm; nó thực sự là một nguồn khí dồi dào có trong vũ trụ. Trong
thực tế, 24 % khối lượng nguyên tố của thiên hà chúng ta chứa đựng khí hêli,
điều đó tạo nên nguyên tố phổ biến thứ hai trong vũ trụ của chúng ta. Tuy
nhiên, do tích chất của khí heli nhẹ nên hầu hết khí hêli biến mất khỏi hành
tinh của chúng ta cách đây nhiều năm.
Consequently, only a miniscule proportion – 0.00052%, to be
exact – remains in earth’s atmosphere. Helium is the byproduct of millennia of
radioactive decay from the elements thorium and uranium. The helium is mostly
trapped in subterranean natural gas bunkers and commercially extracted through
a method known as fractional distillation.
Do đó, chỉ có một tỷ
lệ rất nhỏ là khoảng 0,00052% vẫn còn trong bầu khí quyển của trái đất. Khí
Heli là sản phẩm phụ của tình trạng phân rã phóng xạ hàng ngàn năm từ các
nguyên tố Thorium và Uranium. Khí Hêli hầu hết là bị mắc kẹt trong hầm hố gas
tự nhiên và được thương mại thông qua một phương pháp gọi là chưng cất phân
đoạn.
The loss of helium on Earth would affect society greatly.
Defying the perception of it as a novelty substance for parties and gimmicks,
the element actually has many vital applications in society.
Việc mất khí hêli trên
trái đất sẽ ảnh hưởng đến xã hội rất nhiều. Bất chấp việc nhận thấy khí heli
như là một chất mới lạ đối với các nhóm lợi ích và mánh lới truyền thông quảng
cáo, thì nó chính là yếu tố thực sự có nhiều ứng dụng quan trọng trong xã hội.
Probably the most well known commercial usage is in airships and
blimps (non-flammable helium replaced hydrogen as the lifting gas du jour after
the Hindenburg catastrophe in 1932, during which an airship burst into flames
and crashed to the ground killing some passengers and crew).
Có lẽ việc sử dụng
thương mại nổi tiếng nhất là trong khinh khí cầu (hêli không cháy thay thế khí
hydro sau thảm họa Hindenburg vào năm 1932, khi đó một chiếc máy bay bốc cháy
và đâm xuống đất giết chết một số hành khách và phi hành đoàn).
But helium is also instrumental in deep-sea diving, where it is
blended with nitrogen to mitigate the dangers of inhaling ordinary air under
high pressure; as a cleaning agent for rocket engines; and, in its most
prevalent use, as a coolant for superconducting magnets in hospital MRI
(magnetic resonance imaging) scanners.
Nhưng hêli cũng là công
cụ bổ trợ khi lặn ở biển sâu, nơi nó được pha trộn với nitơ để giảm thiểu những
nguy cơ hít phải không khí bình thường dưới áp lực cao; cũng là một chất làm
sạch cho động cơ tên lửa; và sử dụng phổ biến nhất là một chất làm mát cho các
nam châm siêu dẫn trong bệnh viện MRI (chụp cộng hưởng từ) máy quét.
The possibility of losing helium forever poses the threat of a
real crisis because its unique qualities are extraordinarily difficult, if not
impossible to duplicate (certainly, no biosynthetic ersatz product is close to
approaching the point of feasibility for helium, even as similar developments
continue apace for oil and coal).
Khả năng mất heli mãi
mãi là mối đe dọa của một cuộc khủng hoảng thực sự vì những tính chất đặc biệt
của nó là vô cùng khó kiếm, nếu không muốn nói là không tìm được chất có tính
năng giống vậy (chắc chắn, không có chất tổng hợp sinh học từ những chất có thể
tiếp cận gần tới điểm có lợi như hêli, thậm chí phát triển tương tự tiếp tục
phát triển nhanh so với dầu và than đá).
Helium is even cheerfully derided as a “loner” element since it
does not adhere to other molecules like its cousin, hydrogen. According to Dr.
Lee Sobotka, helium is the “most noble of gases, meaning it’s very stable and
non-reactive for the most part … it has a closed electronic 12 configuration, a
very tightly bound atom. It is this coveting of its own electrons that prevents
combination with other elements’. Another important attribute is helium’s
unique boiling point, which is lower than that for any other element. The
worsening global shortage could render millions of dollars of high-value,
life-saving equipment totally useless.
Helium thậm chí còn
được chế với nghĩa hài hước là "nguyên tố cô đơn" vì nó không phản
ứng với các phân tử khác như anh em của nó là Hydro. Theo Tiến sĩ Lee Sobotka,
hêli là "sự cao quý của chất khí, có nghĩa là nó rất ổn định và không phản
ứng với hầu hết các chất, nó có một cấu hình điện tử bền chắc. Nó là giữ các
electron riêng lẽ của mình mà ngăn cản sự kết hợp với các yếu tố khác'. Một
thuộc tính quan trọng khác là điểm sôi đặc biệt của khí hêli thấp hơn so với
bất kỳ yếu tố khác. Điều tồi tệ của việc thiếu hụt toàn cầu có thể khiến hàng
triệu đôla có giá trị cao, nhưng tìm kiếm thiết bị cứu rỗi cuộc sống là hoàn
toàn vô ích.
The dwindling supplies have already resulted in the postponement
of research and development projects in physics laboratories and manufacturing
plants around the world. There is an enormous supply and demand imbalance
partly brought about by the expansion of high-tech manufacturing in Asia.
Các nguồn cung cấp
giảm đã dẫn đến việc hoãn lại các dự án nghiên cứu và phát triển trong phòng
thí nghiệm vật lý và các nhà máy sản xuất trên toàn thế giới. Có một sự mất cân
bằng lớn về cung và cầu việc trong tiến trình mở rộng sản xuất công nghệ cao ở
Châu Á.
The source of the problem is the Helium Privatisation Act (HPA),
an American law passed in 1996 that requires the U.S. National Helium Reserve
to liquidate its helium assets by 2015 regardless of the market price. Although
intended to settle the original cost of the reserve by a U.S. Congress ignorant
of its ramifications, the result of this fire sale is that global helium prices
are so artificially deflated that few can be bothered recycling the substance
or using it judiciously.
Các nguồn của vấn đề
là Tư Nhân Hóa Luật Helium (HPA), một hãng luật Mỹ thông qua vào năm 1996 yêu
cầu cục Dự Trữ Quốc gia Hoa Kỳ về Heli là thanh lý tài sản khí heli vào năm
2015 bất kể giá thị trường. Mặc dù dự định để giải quyết các chi phí dự trữ ban
đầu bởi Quốc hội Mỹ không biết về giá trị của Hêli, kết quả của việc bán tháo
này là giá cả khí hêli toàn cầu đang bị lạm phát giả tạo và việc tái chế cũng
ít lại hoặc sử dụng nó một cách khôn ngoan.
Deflated values also mean that natural gas extractors see no
reason to capture helium. Much is lost in the process of extraction. As Sobotka
notes: "[t]he government had the good vision to store helium, and the
question now is: Will the corporations have the vision to capture it when
extracting natural gas, and consumers the wisdom to recycle?
Giá trị lạm phát cũng
có nghĩa là tách chiết khí tự nhiên cho thấy không có lý do gì để giữ lại khí
hêli. Phần lớn bị mất đi trong quá trình khai thác. Như Sobotka ghi chú:
"[chính phủ] đã có tầm nhìn tốt để lưu trữ khí heli, và vấn đề bây giờ là:
các tập đoàn sẽ có tầm nhìn để giữ lại nó khi chiết xuất khí đốt tự nhiên, và
tiêu dùng khôn ngoan để tái chế lại không ?
This takes long-term vision because present market forces are
not sufficient to compel prudent practice”. For Nobel-prize laureate Robert
Richardson, the U.S. government must be prevailed upon to repeal its
privatisation policy as the country supplies over 80 per cent of global helium,
mostly from the National Helium Reserve. For Richardson, a twenty- to
fifty-fold increase in prices would provide incentives to recycle.
Điều mang lại tầm nhìn
lâu dài bởi vì thị trường hiện nay là không đủ để buộc thực hiện thận trọng
". Đối với Robert Richardson người đoạt giải Nobel, chính phủ Mỹ phải
thuyết phục việc bãi bỏ chính sách tư nhân hóa hêli như là nguồn cung cấp quốc
gia với mức 80% của hêli toàn cầu, chủ yếu là từ các Quốc gia Dự trữ Heeli. Đối
với Richardson, một hai mươi đến năm mươi lần tăng giá sẽ đưa đến sự ưu đãi để
tái chế.
A number of steps need to be taken in order to avert a costly
predicament in the coming decades. Firstly, all existing supplies of helium
ought to be conserved and released only by permit, with medical uses receiving
precedence over other commercial or recreational demands.
Một số bước cần phải
được thực hiện để ngăn chặn một tình trạng tốn kém trong những thập kỷ tới. Thứ
nhất, tất cả các nguồn cung cấp hiện có của hêli phải được bảo tồn và phát hành
khi cho phép, với y học nhận được ưu tiên hơn các nhu cầu thương mại hay giải
trí khác.
Secondly, conservation should be obligatory and enforced by a
regulatory agency. At the moment some users, such as hospitals, tend to recycle
diligently while others, such as NASA, squander massive amounts of helium.
Lastly, research into alternatives to helium must begin in earnest.
Thứ hai, bảo tồn nên
bắt buộc và thi hành bởi một cơ quan quản lý. Tại thời điểm này một số người
dùng, chẳng hạn như bệnh viện, có xu hướng tái chế lại trong khi những người
khác, chẳng hạn như NASA, lãng phí một lượng lớn khí hêli. Cuối cùng, nghiên
cứu trong việc thay thế heli phải bắt đầu một cách nghiêm túc.
Source: British
Council



Đăng nhận xét