Children with auditory problems
Trẻ em với các vấn
đề về thính giác
Hearing impairment or
other auditory function deficit in young children can have
a major impact on their development of speech and communication,
resulting in a detrimental effect on their ability to learn at
school. This is likely to have major consequences for
the individual and the population as a whole. The New
Zealand Ministry of Health has found from research carried
out over two decades that 6-10% of children in that country are
affected by hearing loss.
Khiếm thính hoặc việc
suy giảm chức năng thính giác ở trẻ nhỏ có thể sẽ tạo một tác động lớn đến sự
phát triển giao tiếp và vấn đề phát âm ở trẻ gây bất lợi về khả năng học tập ở
trường. Điều này có thể có những hậu quả to lớn cho từng cá nhân nói riêng cũng
toàn xã hội nói chung. Từ các nghiên cứu thực hiện trong vòng hai thập kỷ qua,
Bộ Y tế New Zealand đã phát hiện ra rằng có khoảng 6-10% trẻ em trong nước bị
mắc chứng điếc.
A preliminary study in New Zealand has shown that
classroom noise presents a major concern for teachers and
pupils. Modern teaching practices , the organisation of desks in
the classroom, poor classroom acoustics, and mechanical means of
ventilation such as air-conditioning units
all contribute to the number of children unable to comprehend
the teacher's voice. Education researchers Nelson and Soli have also
suggested that recent trends in learning often involvecollaborative
interaction of multiple minds and tools as
much as individual possession of information . This all
amounts to heightened activity and noise levels, which have
the potential to be particularly serious for children
experiencing auditory function deficit. Noise in classrooms can
only exacerbatetheir difficulty in comprehending and processing
verbal communication with other children and instructions from the teacher.
Một nghiên cứu sơ bộ ở
New Zealand đã chỉ ra rằng tiếng ồn trong lớp là mối quan ngại lớn cho giáo
viên và học sinh. Tất cả các tiếng ồn liên quan đến việc sắp xếp bàn ghế, việc
thiếu cách âm giữa các lớp học hay từ các thiết bị thông gió như máy lạnh trong
lớp là nguyên nhân vì sao có rất nhiều học sinh không thể nghe giọng thầy cô
giảng bài. Các nhà nghiên cứu giáo dục Nelson và Soli cũng đã gợi ý rằng xu
hướng gần đây trong học tập thường liên quan đến việc làm việc nhóm với việc sử
dụng càng nhiều thông tin cá nhân càng tốt. Điều này làm cho lớp học ngày càng
ồn hơn, có thể là nguyên nhân dẫn đến việc suy giảm thính giác ở trẻ một cách
nghiệm trọng. Tiếng ồn trong lớp học có thể sẽ làm cho trẻ gặp nhiều khó khăn
hơn trong việc hiểu và xử lý thông tin liên lạc bằng lời nói với các trẻ khác
và các hướng dẫn từ giáo viên.
Children with auditory function deficit are
potentially failing to learn to their maximum potential because of noise
levels generated in classrooms. The effects of noise on the ability of children
to learn effectively in typical classroom environments are now the subject
of increasing concern. The International Institute of Noise
Control Engineering (I-INCE), on the advice of the World Health
Organization, has established an international working party, which
includes New Zealand, to evaluatenoise and reverberation control
for school rooms.
Trẻ em bị thiếu chức
năng thính giác có khả năng không phát huy tối đa tiềm năng của mình trong việc
học vì tiếng ồn tạo ra trong lớp học. Những ảnh hưởng của tiếng ồn làm ảnh
hưởng đến khả năng học tập hiệu quả của trẻ trong môi trường lớp học hiện nay
đã được mọi người quan tâm ngày càng cao. Viện quốc tế Công Nghệ Kiểm soát
tiếng ồn (I-Ince), theo lời khuyên của Tổ chức Y tế Thế giới, đã thành lập một
nhóm công tác quốc tế, trong đó bao gồm New Zealand, để đánh giá tiếng ồn và
kiểm soát tiếng vang cho các phòng học.
While the detrimental effects of noise in classroom
situations are not limited to children experiencing disability, those with a
disability that affects their processing of speech and verbal
communication could be extremely vulnerable. The auditory function deficits
in question include hearing impairment, autistic spectrum disorders (ASD)
and attention deficit disorders (ADD/ADHD).
Trong khi các tác động
có hại của tiếng ồn trong các lớp học chưa được kiểm soát tốt thì những trẻ bị
khuyết tật trong giao tiếp có thể sẽ bị tổn thương ghê gớm. Các chứng thiếu hụt
chức năng thính giác được đề cập bao gồm sự suy giảm thính giác, chứng rối loạn
tự kỷ (ASD) và các rối loạn thiếu chú ý (ADD / ADHD).
Autism is considered a neurological and genetic life-long
disorder that causes discrepancies in the way information is processed. This
disorder is characterised by interlinking problems with social
imagination, social communication and social interaction. According to
Janzen, this affects the ability to understand and relate in typical ways
to people, understand events and objects in the environment,and
understand or respond to sensory stimuli. Autism does not allow
learning or thinking in the same ways as in children who are developing
normally.
Chứng tự kỷ được xem
là sự rối loạn lâu dài về thần kinh và di truyền gây ra sự khác biệt trong cách
thức thông tin được xử lý. Rối loạn này được xác định bởi các vấn đề liên kết
với trí tưởng tượng xã hội, giao tiếp xã hội và tương tác xã hội. Theo Janzen,
điều này ảnh hưởng đến khả năng hiểu ở một số người về các sự kiện và đối tượng
trong một môi trường cụ thể cũng như việc hiểu hay phản ứng lại với các kích
thích cảm giác. Việc tự kỷ không cho phép trẻ học hay suy nghĩ theo những cách
phát triển bình thường.
Autistic spectrum disorders often result
in major difficulties in comprehending verbal information and speech
processing. Those experiencing these disorders often find sounds such
as crowd noiseand the noise generated by machinery painful and
distressing. This is difficult to scientifically quantify as such
extra-sensory stimuli vary greatly from one autistic individual
to another. But a child who finds any type of noise in their classroom or
learning space intrusive is likely to be adversely affected in
their ability to process information.
Rối loạn tự kỷ thường
dẫn đến những khó khăn rất lớn trong việc hiểu thông tin bằng lời nói và xử lý
tiếng nói. Những kiểu rối loạn thường tìm thấy là những âm thanh như tiếng ồn
đám đông, tiếng ồn tạo ra bởi máy móc hay tiếng kêu đau đớn. Điều này làm các
nhà khoa học rất khó khăn trong việc định lượng những kiểu kích thích ngoài
giác quan như vậy mà điều này có thể thay đổi rất nhiều từ một cá nhân tự này
đến cá nhân tự kỷ khác. Nhưng khi một đứa trẻ khi phát hiện bất kỳ loại tiếng
ồn nào trong lớp học hoặc không gian học tập của mình bị xâm nhập có thể sẽ bị
ảnh hưởng xấu đến khả năng xử lý thông tin.
The attention deficit disorders are indicative of neurological
and genetic disorders and are characterised by difficulties with sustaining
attention, effort and persistence, organisation skills and disinhibition.
Children experiencing these disorders find it difficult to screen
out unimportant information, and focus on everything in
the environment rather than attending to a single activity.
Background noise in the classroom becomes a major distraction,
which can affect their ability to concentrate.
Các rối loạn thiếu chú
ý là biểu hiện của rối loạn thần kinh và di truyền và được đặc trưng bởi những
khó khăn với việc duy trì sự quan tâm, nỗ lực và kiên trì, kỹ năng tổ chức và
ức chế. Trẻ gặp những rối loạn như vậy sẽ cảm thấy khó khăn để lọc ra những
thông tin không quan trọng, và tập trung vào mọi thứ trong môi trường học tập
hơn là phải tham dự một hoạt động đơn lẻ nào. Việc gây tiếng ồn trong lớp học đã
trở thành một sự phân tâm lớn, có thể ảnh hưởng đến khả năng tập trung.
Children experiencing
an auditory function deficit can often find speech and
communication very difficult to isolate and process when
set against high levels of background noise.
Trẻ gặp vấn đề thiếu
chức năng thính giác thường cảm thấy việc nói và giao tiếp rất khó để cô lập và
xử lý khi phải đối phó với mức độ cao của tiếng ồn xung quanh.
These levels come from outside activities that penetrate the
classroom structure, from teaching activities, and other noise
generated inside, which can be exacerbated by room reverberation.
Strategies are needed to obtain the optimum classroom
construction and perhaps a change in classroom culture and
methods of teaching. In particular, the effects of noisy classrooms and
activities on those experiencing disabilities in the form
of auditory function deficit need thorough investigation. It
is probable that many undiagnosed children exist in the
education system with ' invisible ' disabilities. Their needs are
less likely to be met than those of children with known
disabilities.
Các mức này đến từ các
hoạt động bên ngoài mà thâm nhập vào các cấu trúc lớp học, từ các hoạt động
giảng dạy, và tiếng ồn khác tạo ra bên trong, có thể làm trầm trọng hơn bởi âm
vang trong phòng. Chúng ta nhất thiết phải có những chiến lược để có thể xây
dựng lớp học tối ưu và có lẽ nên thay đổi văn hóa và phương pháp giảng dạy
trong lớp học. Đặc biệt, những tác động của các lớp học ồn ào và các hoạt động
trên ảnh hưởng đến những trẻ bị thiếm thính cần phải được điều tra kỹ lưỡng
hơn. Có thể là nhiều trẻ em không được chẩn đoán vẫn tồn tại trong hệ thống
giáo dục khuyết tật "vô hình" này.Nhu cầu của họ ít có khả năng được
đáp ứng hơn so với những trẻ em khuyết tật được biết đến.
The New Zealand Government has developed a New Zealand
Disability Strategy and has embarked on a wide-ranging
consultation process. The strategy recognises that
people experiencing disability face significant barriers in
achieving a full quality of life in areas
such as attitude, education, employment and access to
services. Objective 3 of the New
Zealand Disability Strategy is to 'Provide the Best Education
for Disabled People' by improving education so that all children, youth
learners and adult learners will have equal opportunities to
learn and develop within their already existing local school. For a successful
education, the learning environment is
vitally significant, so any effort to improve this
is likely to be of great benefit to all children, but
especially to those with auditoryfunction disabilities.
Chính phủ New Zealand
đã phát triển một chiến lược khuyết tật New Zealand mới và đã bắt tay vào quá
trình tham vấn rộng rãi. Chiến lược này nhận ra rằng những người trải qua tình
trạng khuyết tật phải đối mặt với những rào cản lớn trong việc đạt được một
chất lượng đầy đủ của cuộc sống trong các lĩnh vực như thái độ, giáo dục, việc
làm và tiếp cận với các dịch vụ. Mục tiêu thứ 3 của Chiến lược khuyết tật New
Zealand là 'Cung cấp giáo dục tốt nhất cho người tàn tật' bằng cách cải thiện
giáo dục để tất cả trẻ em, thanh niên và học viên người lớn có cơ hội bình đẳng
để học hỏi và phát triển trong các trường học địa phương có sẵn. Đối với một
nền giáo dục thành công, môi trường học tập là vô cùng quan trọng, vì vậy bất
kỳ nỗ lực để cải thiện điều này có thể sẽ là lợi ích rất lớn cho tất cả trẻ em,
nhưng đặc biệt là với những trẻ có khuyết tật chức năng thính giác.
A number of countries are already in the process of
formulating their own standards for the control and reduction of classroom
noise. New Zealand will probably follow their example. The literature to
date on noise in school rooms appears to focus on the effects
on schoolchildren in general, their teachers and the hearing impaired.
Only limited attention appears to have been given to those students
experiencing the other disabilities
involving auditory function deficit. It is imperative that
the needs of these children are taken into account in the setting
of appropriate international standards to be promulgated in future.
Một số nước đã quy
trình xây dựng tiêu chuẩn riêng của mình để kiểm soát và giảm tiếng ồn trong
lớp học. Lấy New Zealand làm gương các nước khác có thể học hỏi từ đó. Các tài
liệu cập nhật về tiếng ồn trong phòng học dường như tập trung vào những tác
động về học sinh nói chung, giáo viên và những người khiếm thính. Dường như mọi
người chỉ chú ý đến những học sinh gặp các khuyết tật có liên quan đến việc
thiếu chức năng thính giác. Điều bắt buộc là chúng ta cần phải tính đến nhu cầu
của các trẻ em trong việc thiết lập các tiêu chuẩn quốc tế phù hợp để được ban
hành trong tương lai.
Source: Cambridge IELTS 2



Đăng nhận xét