‘It’s All About Me, Me, Me!’ Why Children Are Spending Less
Time Doing Household Chores
‘Tất cả là tôi, tôi, tôi!’ Tại sao trẻ em lại đang dành ít
thời gian hơn để làm việc nhà
Technological inventions have made life easier
around the home and have meant fewer and fewer chores for the kids. (
Ilike/Shutterstock)
Các phát minh về kĩ thuật đã khiến cuộc sống
gia đình dễ dàng hơn và đồng nghĩa với việc trẻ em phải làm ít công việc nhà
hơn. (Ilike/Shutterstock)
In August, Australian Treasurer Scott Morrison warned that
“Australia has a generation growing up expecting government handouts.”
Vào tháng 8, Trưởng Ngân Khố Úc Scott Morrison cảnh báo rằng “Úc
có một thế hệ trưởng thành chỉ trông chờ vào trợ cấp chính phủ”.
Researchers have labeled this the “Me Generation.” Some even say
we are facing a “me, me, me epidemic.”
Các nhà nghiên cứu đã gán cho thế hệ này là “Thế hệ Tôi”. Một số
người thậm chí nói rằng chúng ta đang đối mặt một “dịch bệnh tôi, tôi, tôi”.
So why have today’s young people become more narcissistic?
According to research, the decrease in young people’s levels of empathy is
partly the result of changes in parenting styles that came about in the 1980s.
Tại sao nhiều thanh thiếu niên ngày nay trở nên yêu bản thân
mình quá mức? Theo nghiên cứu, sự đồng cảm ở người trẻ giảm sút một phần là do
cách thức giáo dục con cái của các bậc cha mẹ thay đổi từ những năm 1980.
In the past, parents had children as a means to gain practical
and even financial support for family survival and to help it thrive. But now,
children are perceived as an emotional asset whose primary purpose is being
loved. Parents now tend to place greater emphasis on cultivating the happiness
and success of their offspring.
Trước đây, cha mẹ xem con cái như một phương tiện để có sự hỗ
trợ thực tiễn, thậm chí cả về tài chính, giúp gia đình tồn tại và phát triển.
Nhưng ngày nay, cha mẹ xem con cái như một tài sản tình cảm, mục đích chính của
con cái là được yêu chiều. Ngày nay, cha mẹ có xu hướng xem hạnh phúc và thành
công của con cái quan trọng hơn những điều khác.
What Led to This Change in Parenting Style?
Điều gì khiến cho phương cách giáo dục con trẻ của cha mẹ thay
đổi?
From the 1980s onward, children have spent fewer hours doing
chores around the house as living conditions and technology—including the
invention of washing machines and dishwashers—have improved.
Từ những năm 1980 trở lại đây, trẻ em dành ít thời gian để làm
việc nhà hơn do các điều kiện sống và kĩ thuật-bao gồm sự phát minh máy giặt
quần áo và máy rửa bát đã cải thiện.
Children are no longer perceived as contributors whose work is
essential for the survival of the family and its ability to thrive.
“Trẻ em không còn được
xem là những người đóng góp cho sự tồn tại và phát triển của gia đình”.
Nowadays children are no longer perceived as contributors whose
work is essential for the survival of the family and its ability to thrive.
Ngày nay, trẻ em không còn được xem là những người đóng góp cho
sự tồn tại và phát triển của gia đình nữa.
Parental focus has shifted from the development of family
responsibility to the development of children’s happiness and success.
Sự chú trọng của các bậc cha mẹ đã chuyển từ sự phát triển trách
nhiệm của cha mẹ sang sự phát triển hạnh phúc và thành công của con cái.
As a result, children’s sense of entitlement has been inflated,
but the cultivation of responsibility has fallen by the wayside. So chores are
not valued as much as they used to be.
Kết quả là, điều đó khiến con cái thêm tự mãn về quyền lợi của
mình, nhưng cùng lúc đó sự tu dưỡng trách nhiệm ở con trẻ đã giảm sút. Vì vậy
trẻ em không còn coi trọng công việc nhà như trước đây.
This is particularly the case for young people in China, often
labeled “little emperors” and “little princesses,” who were born under the
one-child policy between 1979 and 2015.
Điều này đặc biệt đúng đối với thanh thiếu niên ở Trung Quốc,
thường bị gán cho biệt hiệu “hoàng đế nhỏ” và “công chúa nhỏ”, những trẻ em
được sinh ra theo chính sách một con từ năm 1979 đến 2015.
These children’s parents, most of whom had gone through hardship
in China’s Great Famine and the Cultural Revolution, vowed not to allow what
they had suffered to happen to their only child. They became overwhelmingly
dedicated to their child, which resulted in many children shouldering no family
responsibilities, including chores.
Cha mẹ của những trẻ em này, hầu hết đã trải qua gian khổ trong
Nạn đói và Cách mạng Văn hóa Trung quốc, họ đã thề rằng sẽ không cho phép điều
họ đã phải chịu đựng sẽ xảy ra với đứa con duy nhất của họ. Họ trở nên ngập
tràn sự bao bọc chiều chuộng con cái. Điều này dẫn đến nhiều trẻ em không còn
quan tâm gánh vác trách nhiệm với gia đình, bao gồm công việc nhà.
It is also the case for children in the West. Research has found
that less than 30 percent of American parents ask their children to do chores.
Điều này cũng đúng với trẻ em Phương Tây. Theo như nghiên cứu,
dưới 30% các bậc cha mẹ tại Mỹ yêu cầu con cái làm việc nhà.
Parental focus has shifted from the development of family responsibility
to the development of children’s happiness and success.
Sự chú trọng của cha
mẹ đã chuyển từ sự phát triển trách nhiệm với gia đình sang sự phát triển hạnh
phúc và thành công của con cái.
As academic Richard Rende said in his book “Raising Can-Do
Kids”:
Như viện sĩ Richard Rende đã đề cập trong quyển sách của ông có
tên “Nuôi nấng trẻ em biết làm việc”:
“Parents today want
their kids spending time on things that can bring them success, but ironically,
we’ve stopped doing one thing that’s actually been a proven predictor of
success—and that’s household chores.”
“Các bậc cha mẹ ngày nay muốn con cái dành thời gian vào những
việc có thể mang lại thành công cho chúng, nhưng trớ trêu là, chúng ta đã ngừng
làm điều mà thật sự là một tiên đoán cho thành công-và đó là công việc nhà”.
How Responsibility Can Develop a Family Bond
Trách nhiệm có thể phát triển sự gắn kết gia đình như thế nào
Traditionally, chores were a family obligation. They were hard
and tedious.
Theo truyền thống, công việc nhà là nhiệm vụ của gia đình. Chúng
vất vả và tẻ nhạt.
But research suggests engaging in routine chores helps children
to develop a sense of social justice, because everyone has to do them, which
inculcates the idea of fairness. Chores can also provide a vehicle for children
to cultivate a family bond and a sense of responsibility.
Nhưng theo nghiên cứu, tham gia vào công việc nhà sẽ giúp trẻ em
phát triển ý thức công bằng xã hội, vì tất cả mọi người phải làm công việc nhà,
điều này sẽ khắc sâu tư tưởng công bằng trong tâm trí chúng. Công việc nhà cũng
có thể là một phương tiện giúp trẻ em nuôi dưỡng sự gắn kết với gia đình và ý
thức trách nhiệm.
The development of social justice in children means that
children view their relationship with their parents as a two-way thing, rather
than it being one-sided.
Sự phát triển công bằng xã hội ở trẻ em đồng nghĩa với trẻ em
xem mối quan hệ với cha mẹ như một mối quan hệ hai chiều, không phải là quan hệ
một chiều.
A family bond has two interacted dimensions: that parents love
their children and that children are grateful for the sacrifices their parents
made.
Một sự gắn kết gia đình có hai phạm vi tương tác: cha mẹ yêu
thương con cái và con cái biết ơn sự hy sinh mà cha mẹ đã dành cho mình.
For the latter, only through moral reasoning and, more
importantly, discipline (chores) can parental love be translated into practice
and mutual love between parents and children and a family bond be developed.
Đối với chiều thứ hai, chỉ thông qua sự chỉ bảo và, quan trọng
hơn là kỉ luật (công việc nhà), tình yêu thương của cha mẹ mới có tác dụng thực
tiễn và tình yêu thương giữa cha mẹ và con cái và sự gắn kết gia đình mới có
thể phát triển.
Shi Li is a lecturer in Chinese language, contemporary Chinese
culture, and calligraphy at the University of New England. This article
was originally published on TheConversation.com.
Read the original Article.
Shi Li, giảng viên ngôn ngữ và văn hóa Trung Hoa tại Đại học New
England. Bài viết được đăng lần đầu tại trang TheConversation.com.
By: Shi Li, University of New England



Đăng nhận xét