The Case
Joe
Smith [not his real name], a 42-year-old man with nausea and vomiting for 4
days, was on the general medical service at an academic medical center. Overnight,
another man with the last name Smith (Raymond Smith [not his real name]) was
admitted to the same room. Usually, this coincidence would have been
prevented, but the hospital had a bed shortage. Moreover, the admission
occurred at 6:30AM, around the time the nursing shift changed, so that the
outgoing staff did not notice that this patient was being placed in a room
with another Mr. Smith.
|
Ca lâm sàng
Nguyễn
Sơn Tùng (không phải tên thật), bệnh nhân nam 42 tuổi, buồn nôn và nôn trong
4 ngày, đang được chăm sóc y tế tổng quát ở bệnh viện của một trường đại học.
Qua đêm, một người đàn ông khác cũng tên là Sơn Tùng (Đào Sơn Tùng [không phải
tên thật]) được nhập viện vào cùng phòng. Thông thường những trùng hợp ngẫu
nhiên như vậy sẽ được phòng tránh nhưng vì bệnh viện đang thiếu giường, hơn nữa
bệnh nhân nhập viện lúc 6 giờ 30 phút sáng là lúc các y tá đang đổi ca vì vậy
những nhân viên y tế sắp được đổi ca sẽ không để ý rằng bệnh nhân này đang ở
cùng phòng với một bệnh nhân khác cũng tên là Sơn Tùng.
|
Raymond
Smith is a 60-year-old man admitted for treatment of alcohol withdrawal. He
was scheduled to receive a dose of IV haloperidol at 7AM. The nurse retrieved
the pre-filled syringe from the correct Mr. Smith's medication drawer, but
confused the two patients when she entered the room. She was about to
administer the haloperidol to the wrong Mr. Smith, but the medical student
caring for him was pre-rounding and asked the nurse what medication Joe Smith
was about to receive. When the student informed the nurse that the team had
not ordered any haloperidol for this patient, they checked the medication
administration record (MAR) together and recognized the error. The
haloperidol was given to the right Mr. Smith, and one Mr. Smith was moved to
another room, to reduce the chance of another such error.
|
Bệnh
nhân Đào Sơn Tùng, nam 60 tuổi, nhập viện để điều trị hội chứng cai rượu. Bệnh
nhân được kê đơn với một liều haloperidol tiêm tĩnh mạch lúc 7 giờ sáng. Y tá
nhận bơm kim tiêm đã được nạp đủ thuốc từ đúng ngăn thuốc của bệnh nhân này
nhưng khi vào phòng thì lại nhầm lẫn giữa hai bệnh nhân. Khi cô ấy chuẩn bị
tiêm haloperidol cho bệnh nhân Nguyễn Sơn Tùng thì một sinh viên y khoa phụ
trách chăm sóc bệnh nhân này đang thăm khám và đã hỏi y tá xem đó là thuốc
gì. Khi sinh viên khẳng định rằng các bác sỹ không hề kê đơn haloperidol cho
bệnh nhân này, họ cùng kiểm tra lại phiếu theo dõi thuốc điều trị (Medical
Administraton Record- MAR) và phát hiện ra sai sót. Bệnh nhân Đào Sơn Tùng
sau đó được tiêm đúng thuốc và bệnh nhân Nguyễn Sơn Tùng được chuyển sang một
phòng khác để tránh nguy cơ gặp phải các sai sót tương tự.
|
The Commentary
It
is tempting to attribute this error to the unlikely combination of
circumstances that allowed two patients with the same last name to share a
hospital room. While few studies have addressed this problem, it is clear
from anecdotal reports that this type of error can and does occur even
without the coincidence in this case.
Although
this error was detected before reaching the patient and causing any harm, the
error is clearly serious enough to warrant the term ''near miss.'' It is
serious for two reasons. First, the mix-up exposes patients to an arbitrary
opportunity for harm — ie, a given patient can potentially receive any
medication, and thus might receive one to which they are either allergic or
likely to develop an adverse drug reaction based on their current medical
condition. For example, a patient with renal failure could receive the
aminoglycoside intended for another patient; the patient with severe asthma
could receive the beta-blocker intended for another patient. In this case,
for instance, if Mr. Smith 1 were an elderly patient with Parkinson's
Disease, his extrapyramidal symptoms might worsen on receiving a dopamine
antagonist. Moreover, the error of commission—administering the wrong drug to
Joe Smith—would in this case likely be accompanied by an error of omission
for Raymond Smith, who would fail to receive an important medication in
treatment of his alcohol withdrawal.
|
Bàn luận
Một
số người có thể cho rằng sai sót trên thực chất chỉ là một sự trùng hợp ngẫu
nhiên khi việc bệnh viện cho phép có hai bệnh nhân trùng tên nhau ở cùng
chung một phòng là rất hiếm xảy ra. Mặc dù có rất ít nghiên cứu tiếp cận vấn
đề này nhưng đã có những báo cáo truyền miệng chỉ ra rất rõ ràng rằng sai sót
kiểu này thực sự có thể và đã xảy ra ngay cả khi không có sự trùng hợp ngẫu
nhiên như ở trường hợp trên.
Sai
sót trên đã kịp thời được phát hiện trước khi gây ra bất kỳ tác hại nào cho bệnh
nhân tuy nhiên nó vẫn đủ nghiêm trọng để chứng minh cho khái niệm “cận nguy”
(“near miss”). Nó nghiêm trọng vì hai lý do. Thứ nhất, việc nhầm lẫn khiến bệnh
nhân có nguy cơ phải chịu một tác hại nào đó- tức là bệnh nhân có thể sẽ nhận
được một loại thuốc mà họ bị dị ứng hoặc có nguy cơ cao gặp phản ứng có hại của
thuốc trên nền tình trạng bệnh lý hiện tại. Ví dụ, một bệnh nhân suy thận có
thể nhận được aminoglycosid vốn được chỉ định cho một bệnh nhân khác; bệnh
nhân hen phế quản cấp có thể sử dụng nhầm thuốc chẹn beta của một bệnh nhân
khác. Trong ca lâm sàng ở trên, giả sử bệnh nhân Nguyễn Sơn Tùng là bệnh nhân
cao tuổi mắc Parkinson thì việc sử dụng nhầm các thuốc kháng dopamin có thể
làm các triệu chứng ngoại tháp của ông ấy trở nên tồi tệ hơn. Hơn nữa, việc sử
dụng nhầm thuốc cho bệnh nhân Nguyễn Sơn Tùng khi đó đồng nghĩa với việc bệnh
nhân Đào Sơn Tùng sẽ không được dùng thuốc và có thể dẫn đến thất bại khi điều
trị hội chứng cai rượu cho bệnh nhân này.
|
Second,
the nature of this error is such that little stands between the patient and
the error. In one large study of medication errors and adverse drug events,
the stages of serious medication errors were as follows: 49% at the ordering stage, 26% at administration, 14% upon
dispensing, and 11% from transcribing.(1) (Figure) Errors were much more
likely to be intercepted if they occurred at an early stage of the process.
In other words, despite the importance of writing legibly, using numerical
units (eg, writing 5 mg instead of 5.0 mg), avoiding abbreviations (eg,
spelling out ''units'' instead of ''U'') and adhering to other practices that
help prevent medication errors, errors committed at the prescribing end of
the medication process are likely to be detected (by nurses or pharmacists).
However, steps further downstream (eg, during administration) undergo fewer
checks, if any, so that errors at such points are far more likely to reach
the patient. In fact, in this case, the detection of the error was a fluke,
resulting from the chance presence of the medical student in the room at the
time of medication administration and the student's fortunate curiosity that
prompted a question to the nurse regarding the drug about to be administered.
|
Thứ
hai, bản chất của sai sót này rất ít khi là do bệnh nhân. Trong một nghiên cứu
lớn về sai sót khi dùng thuốc và biến cố có hại của thuốc, các sai sót xảy ra
ở các giai đoan với tỷ lệ như sau: 49%
ở giai đoạn kê đơn, 26% ở giai đoạn dùng thuốc, 14 % khi cấp phát và 11 % khi
ghi chép (1) (Hình 1). Các sai sót xảy ra ở giai đoạn càng sớm càng được
ngăn chặn tốt hơn. Nói cách khác, mặc dù đã tuân thủ việc viết rõ ràng, sử dụng
các đơn vị số lượng (ví dụ viết 5 mg thay vì 5,0 mg), tránh viết tắt (ví dụ
nên viết “unit” thay vì U) và tôn trọng các nguyên tắc thực hành chuyên môn
khác để phòng ngừa các sai sót, thực tế vẫn có thể phát hiện các sai sót ở cuối
của giai đoạn kê đơn trong quy trình thực hành (bởi y tá hay dược sỹ). Tuy
nhiên, các giai đoạn sau (ví dụ quá trình sử dụng thuốc) thường ít được kiểm
tra hơn, do đó các sai sót ở những thời điểm đó có nhiều khả năng ảnh hưởng
lên bệnh nhân hơn. Ở ca lâm sàng nêu trên việc phát hiện sai sót rõ ràng là
may mắn nhờ sự có mặt tình cờ của một sinh viên y trong phòng tại thời điểm
cho bệnh nhân dùng thuốc và sự tò mò của sinh viên đó khi hỏi y tá về thuốc sắp
được dùng cho bệnh nhân.
|
Documenting
errors at the administration stage is difficult because it requires direct
observation, which is hard to achieve without the awareness of the personnel being
observed.(2) In one study that used a variety of record review approaches,
''wrong drug or patient'' errors represented 4% of all medication errors
among hospitalized medical patients.(3) Interestingly, the chance that a
patient will receive a blood product intended for another patient is roughly
1/20,000. (Fortunately, chance blood group compatibility reduces the
frequency of serious transfusion reactions to about 1/600,000.)(4,5) Given
that blood banking generally has greater safeguards against errors of any
kind, the frequency with which the wrong patient receives a medication is
almost certainly orders of magnitude higher.
|
Việc
ghi chép các sai sót khó có thể thực hiện trong giai đoạn dùng thuốc do cần sự
quan sát trực tiếp, điều khó đạt được nếu người đang quan sát không thực sự
nhận thức được vấn đề (2). Trong một nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp xem
xét các ghi chép khác nhau, biến cố “sai thuốc hoặc sai bệnh nhân” chiếm 4%
trong số tất cả các biến cố liên quan đến thuốc ở các bệnh nhân nội trú (3).
Điểm thú vị là khả năng để một bệnh nhân nhận được nhầm một chế phẩm máu của
bệnh nhân khác xấp xỉ là 1/20.000 (rất may là xác suất tương hợp giữa các
nhóm máu đã làm giảm tần suất tai biến do truyền máu xuống khoảng 1/600.000)
(4,5). Do các ngân hàng máu thường có các biện pháp bảo vệ tốt hơn để chống lại
tất cả các loại sai sót, tần suất bệnh nhân nhận nhầm một thuốc sẽ cao hơn một
bậc so với nhận nhầm chế phẩm máu.
|
The
problem of patients with the same or similar last names is common but
unstudied. On a recent day at UCSF Medical Center, looking only at the
rosters for two of the medical floors, there were two patients with the same
last name, Chan, and three other pairs of similar sounding last names (eg,
Pena and Pineda). To get a broader picture of the problem, we recently
analyzed the hospital's medical service (which accounts for about 15% of all
inpatients at UCSF) to see how often there were identical last names over a
three-month period. We found that from December 2000 to February 2001, the
service had 2 patients with the same last name on 25 (28%) of 89 days. On two
of these days, more than one pair of patients with matching last names was on
the service.
|
Vấn
đề bệnh nhân có tên tương tự nhau hoặc giống nhau xảy ra phổ biến nhưng lại
chưa được nghiên cứu kỹ. Mới gần đây tại một bệnh viện A., chỉ cần nhìn vào
danh sách bệnh nhân của 2 tầng đã thấy có 2 bệnh nhân cùng tên Châu và 3 cặp
bệnh nhân khác có tên nghe tương tự nhau (ví dụ Hương và Hường). Để có cái
nhìn tổng quan hơn về vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành phân tích các dịch vụ
y tế của bệnh viện này (chiếm khoảng 15% số bệnh nhân nội trú ở bệnh viện A.)
để xem xét tần xuất xuất hiện các bệnh nhân có tên giống nhau trong khoảng thời
gian 3 tháng. Kết quả cho thấy từ tháng 12/2000 tới tháng 2/2001, có 25 trong
tổng số 89 ngày (chiếm 28%) có 2 bệnh nhân có tên giống nhau. Trong số 25
ngày này, có 2 ngày có nhiều hơn 1 cặp bệnh nhân có tên giống nhau đang sử dụng
các dịch vụ y tế của bệnh viện.
|
While
most hospitals have some sort of ''name alert'' protocol, these alerts often
appear only in one or two places (eg, the patient roster board on the wall or
perhaps flags in the two charts involved), but not necessarily in the
medication room, in the pharmacy, on the door to the patients' rooms or other
places relevant to alerting providers to the possibility of patient
identification errors.
|
Mặc
dù hầu hết các bệnh viện đều có một vài kiểu quy trình “cảnh báo tên” nhưng
chúng thường chỉ xuất hiện ở một vài địa điểm (ví dụ bảng danh sách bệnh nhân
trên tường) và không có ở phòng cấp phát thuốc, khoa dược, cửa phòng bệnh
nhân hay những nơi khác thích hợp để cảnh báo các cán bộ y tế về nguy cơ nhận
diện nhầm bệnh nhân.
|
The
coincidence of patients with the same last names sharing a room or a ward may
initially distract one from appreciating the many ways that ''wrong patient''
errors can occur, even without this apparent fluke. It is also important to
remember that these 'flukes' do happen, and the thousands of medication
administrations and procedures that occur every day in American hospitals provide
ample opportunities for two or three coincidences to intersect and produce an
egregious error.(6)
|
Việc
các bệnh nhân có tên giống nhau lại trùng hợp ở chung phòng hay khoa ban đầu
có thể làm chúng ta đánh giá không đúng những tình huống có thể gây sai sót
do nhầm lẫn bệnh nhân. Cũng cần nhớ rằng những “sự trùng hợp” này hoàn toàn
có thể xảy ra và với hàng nghìn lượt dùng thuốc mỗi ngày diễn ra ở các bệnh
viện trong cả nước có thể tạo ra rất nhiều khả năng xảy ra đồng thời 2 hoặc 3
sự trùng hợp ngẫu nhiên và kết quả là dẫn đến những sai sót nghiêm trọng (6).
|
The
Table lists some of the major opportunities for a ''wrong patient''
medication error. Unfortunately, there are no easy solutions to implement in
response to these opportunities for error. Barcoding is one promising
fail-safe strategy. In barcoding systems, nurses scan the patient's barcoded
wrist identification band and scan the intended medication prior to
administration. If the codes do not match, the nurse is alerted to the
possibility of an error. While such systems should bring major reductions in
administration errors, many errors in the emergency department, ICU, or other
settings in which orders are acted upon rapidly may not be prevented. In
these time-pressured environments, barcoding systems may produce frequent
'beeps,' so that nurses become accustomed to over-riding the system and
proceeding with the administration of necessary emergent medications. In such
settings, the alarms lose their impact, and providers develop work patterns
that involve ''routine rule violations.''
|
Bảng
1 liệt kê một số tình huống chủ yếu dẫn tới sai sót liên quan đến dùng thuốc
do “nhầm lẫn bệnh nhân”. Tuy nhiên lại chưa có một giải pháp đơn giản và hữu
hiệu nào có thể áp dụng để phòng tránh những tình huống này. Sử dụng mã vạch
là một biện pháp đảm bảo an toàn có nhiều triển vọng. Khi sử dụng hệ thống
này, các y tá sẽ quét qua dải mã vạch ở cổ tay bệnh nhân và so sánh với mã vạch
của thuốc trước khi sử dụng. Nếu mã vạch không trùng khớp tức là cảnh báo có
nguy cơ gặp sai sót. Hệ thống này giúp làm giảm đáng kể sai sót khi dùng thuốc
nhưng ở các phòng cấp cứu hay hồi sức tích cực ICU với các y lệnh được thực
hiện rất nhanh thì nhiều sai sót lại khó được phòng tránh. Ở những môi trường
làm việc với áp lực cao về thời gian này, hệ thống mã vạch có thể gây ra những
tiếng “bíp” thường xuyên khiến các y tá dần dần quen với việc bỏ qua hệ thống
này và tiếp tục thực hiện các y lệnh cần thiết và khẩn cấp khác. Trong hoàn cảnh
đó, hệ thống cảnh báo sẽ có ít vai trò hơn và các cán bộ y tế dần hình thành
kiểu làm việc “vi phạm các quy tắc thường quy”.
|
Take-Home Points
Regardless
of the presence or absence of technology such as computerized physician order
entry or barcoding of medications, physicians can do several things to help
prevent ''wrong patient" medication errors:
·
Always check the name at the top of the record
before writing an order.
·
Whenever possible, verbally inform the patient's
nurse of new written orders.
·
Periodically check the medication administration
record (MAR) of your patients to make sure they are receiving the medications
they should be receiving and not receiving ones they shouldn't.
·
Do not allow
patients with similar or the same names to be placed in the same room (ideally,
they would be on different floors or in different sections of the same
floor).
·
Place visible alerts (''NAME ALERT!'') not just on the ward census sheets, but also on
addressograph cards, charts of patients with the same or similar names,
patient rooms, and even tote boards and individualized patient lists commonly
used by students, interns, and residents.
|
Kết luận
Bất
kể có hay không có sự hỗ trợ của công nghệ như tiến hành nhập y lệnh của bác
sỹ trên máy tính hay sử dụng hệ thống mã vạch của thuốc, các cán bộ y tế có
thể tuân thủ một số nguyên tắc để phòng tránh gặp phải các sai sót về thuốc
do “nhầm lẫn bệnh nhân”:
·
Luôn kiểm tra tên bệnh nhân ở phía trên của phiếu
sử dụng thuốc trước khi ghi y lệnh dùng thuốc
·
Bất cứ khi nào có thể, thông báo bằng lời về chỉ định
mới (đã được ghi vào phiếu) của bệnh nhân cho y tá phụ trách.
·
Kiểm tra định kỳ phiếu theo dõi thuốc điều trị MAR
của bệnh nhân để chắc chắn rằng bệnh nhân đang được dùng chính xác các thuốc
được kê và không dùng thuốc không có trong toa.
·
Không cho phép
bệnh nhân có tên giống hoặc tương tự nhau nằm ở cùng một phòng (lý tưởng là
nên ở khác tầng hoặc khác khu vực trong cùng một tầng)
·
Đặt các cảnh báo có thể nhìn thấy (“Cảnh Báo Nhầm lẫn Tên”) không chỉ ở
bảng kiểm bệnh nhân mà còn trên thẻ in địa chỉ, danh sách bệnh nhân có tên giống
hoặc tương tự nhau, phòng bệnh nhân và thậm chí cả xe đẩy phát thuốc và danh
sách cá thể hóa bệnh nhân (thường được sử dụng bởi sinh viên, thực tập sinh
và bác sĩ nội trú).
|
Bảng 1.Các tình huống dẫn đến sai sót dùng thuốc liên quan đến
nhầm lẫn bệnh nhân
Stage at Which Error Is Introduced
Giai đoạn xảy ra sai sót
|
Example Error
Ví dụ
|
Ordering
Kê đơn
|
Order written in the wrong chart (or entered into
the wrong computerized record)
Ghi y lệnh dùng thuốc vào sai bảng
(hoặc nhập sai đơn trên máy tính)
|
Transcription
Ghi chép
|
Order written in correct chart, but order sheets
have the wrong name stamp
Chỉ định dùng thuốc vào đúng bảng
nhưng cột y lệnh bị sai tên
|
Transcription
Ghi chép
|
Order correctly written, but transcribed to wrong
Medication Administration Record (MAR) for any of a variety of reasons
Chỉ định dùng thuốc đúng nhưng ghi
chép sai vào phiếu theo dõi dùng thuốc MAR vì một hay nhiều lý do nào đó
|
Dispensing
Cấp phát
|
Pharmacist distracted during order entry by phone
call about another patient; resumes order entry with the wrong computer
record open, so that medication becomes part of the pharmacy order record for
the wrong patient.
Dược sĩ lơ đãng khi nhập chỉ định
dùng thuốc trên máy tính do có cuộc gọi về bệnh nhân khác, dẫn tới ghi sai một
thuốc khác lên đơn thuốc đang mở trên máy tính. Kết quả là thuốc đó được kê
đơn cho sai bệnh nhân.
|
Administration
Dùng thuốc
|
Nurse helping out a colleague: ''Mr. Smith needs
his Haldol; can you give it to him, while I take care of Ms. Jones?''
Y tá nhờ đồng nghiệp làm hộ: “ Tiêm
Hadol cho bệnh nhân Sơn Tùng hộ em với được không chị, em còn phải phụ trách
bệnh nhân Giang?”
|



Đăng nhận xét